Mẹ Việt Nam Anh hùng

342. MẸ VNAH NGUYỄN THỊ THỨ

TP. Hồ Chí Minh08/01/2026Trịnh Thanh Phong (ĐOÀN XÃ TÂN AN HỘI)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong bài hát “Mẹ yêu con” có một câu rất đậm đặc nặng:

“Kháng chiến đã dành đất nước về cho đời

Bóng đất nước hình như bóng dáng con tôi”.

Giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi tiếng bom đạn còn rung chuyển từng mái nhà, hình ảnh ấm áp nhất chính là bóng dáng người mẹ chở che, lặng lẽ nhìn theo bước chân con mình tiến con đường ra trận. Trong tiếng khóc nghẹn lại nơi cổ họng, vẫn thấp thoáng một niềm tự hào lặng lẽ bởi họ hiểu rằng đứa trẻ con bé bỏng ngày nào giờ đã gánh trên vai một trách nhiệm non sông. Có những người mẹ không chỉ tiễn một người thân mà còn tiễn cả chồng, tiễn con rồi đến cả cháu như thế, đánh đổi hạnh phúc riêng tư, cả mái ấm của cuộc đời mình cho Tổ quốc. Dù nỗi đau ấy vào tim, họ vẫn kiên cường giấu đi nước mắt Chỉ để lại cặp mắt dõi theo đầy yêu thương và hi vọng. Chính sự hi sinh lặng lẽ, bền bỉ, cao cả đã khắc tên họ vào lịch sử để mỗi chúng ta khi nhắc đến Mẹ Việt Nam anh hùng đều cảm thấy biết ơn, trân trọng những con người bình dị ấy, vĩ đại ấy. Và người mẹ ấy không ai khác là mẹ Nguyễn Thị Thứ.Mẹ Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại xã Điện Thắng Trung, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 18 tuổi, mẹ lập gia đình cùng ông Lê Tự Trị. Thời gian trôi qua, cô gái dệt lụa đẹp nhất xóm làng năm nào đã gửi gắm hết niềm tin mong mỏi vào những câu hát ầu ơ ru hời đưa con vào giấc ngủ. 12 người con của mẹ ra đời trong tình yêu thương, củ sắn, củ khoai mẹ dành cho con nhỏ; đứa nào nghịch ngợm đứt tay hay vấp ngã trầy xước cũng làm mẹ xót lòng. 12 người con ấy giờ đây đã lớn thân đảm nhận câu ca ngọt ngào của mẹ. Cuộc đời của người phụ nữ vĩ đại ấy nuôi con trong những năm tháng lao động đói nghèo nhưng tình thương vô bờ bến của mẹ thì chưa bao giờ đong đếm. Nhiều đêm mẹ phải thức trắng khâu những chiếc quần đã nhạt phai của con mình, cứ ngỡ rằng cuộc sống hạnh phúc ấy kéo dài được lâu, chiến tranh từng ngày đẩy về quê hương. Hằng ngày, hằng giờ mẹ phải tận mắt chứng kiến cảnh ba con xóm làng bị tra đập, bị giết hại, nhà cửa thì đốt phá. Vì thế mẹ chỉ mong chỉ một ngày đất nước được hòa bình, mọi người sống yên vui; mẹ mong mỏi, mẹ khát khao một giây phút cuộc sống bình yên bên những thiên thần bé của mẹ.

Và rồi điều mẹ sợ nhất cũng đã trở thành hiện thực, theo tiếng gọi của Tổ quốc mẹ lần lượt tiễn các con ra chiến trường, chỉ người con gái lớn ở lại cùng mẹ bám trụ với xóm làng, vừa gieo trồng, vừa đào hầm nuôi giấu các cán bộ du kích đánh giặc. Gửi lòng một lần tiễn các con đi là lòng mẹ lại đau đớn, bất an bởi chiến trường khốc liệt, bom đạn ngày đêm càn quét, tiếng súng, tiếng bom rền vang phòng đất, đến cây cỏ còn khó héo thì nghĩ rằng con của các mẹ phải như thế nào.Mất mát đầu tiên của mẹ vào ngày 18 tháng 6 năm 1948 khi anh Lê Tự Xuyến, người con trai thứ hai, là một chiến sĩ giao liên, pháo binh, hy sinh và bị giặc Pháp đánh chết ngay tại đầu làng, nước mắt chưa vơi thì tin dữ lại đến, ngày 5 tháng 10 năm 1948 anh Lê Tự Hàn anh hy sinh trong khi làm nhiệm vụ khu, nỗi đau cứ dập đến như những thanh sắt ghim sâu vào tim của mẹ. Ngày 15 tháng 10 năm 1948 người anh hùng Lê Tự Thọ, em lại ngã xuống trong một trận chống càn, chỉ trong 4 tháng mẹ đã mất 3 người con mà mới dứt sữa sinh ra, vết thương chưa kịp lành, nước mắt chưa kịp khô thì vào ngày 1 tháng 9 năm 1954, thêm một chiến sĩ Lê Tự Lên đã bỏ lại phần xương xẩu nơi chiến trường để dang dở những tháng ngày sau này. Người phụ nữ hiền cũng lại phải tiễn đứa con của mình đã hoà xuống mảnh đất này cùng với đất, người chiến binh Lê Tự Nhi cũng đã âm thầm ra đi, tiếp đến là anh Lê Tự Trịnh cũng đã ngã xuống vào năm 1974. Thử hỏi rằng nếu là một người bình thường có thể chịu được…

Hay không những tưởng rằng trái tim mẹ sẽ được xoa dịu phần nào khi mẹ còn người con trai cả đang làm chiến sĩ biệt động bám trụ gần nhà, niềm hy vọng ấy như một ngọn đèn nhỏ giữa bão tố thì cũng vụt tắt khi ngọn đèn của sự đau thương không thể nói thành lời khi mẹ nghe tin anh đã không quay trở lại chiến trường như trước, khi nhức nhối hoàn cả vòng đầy nỗi đau sống thu về một cõi. Mỗi lần hay tin con mình đã hòa cùng đất, mẹ đã không còn đủ sức để khóc, không một một tiếng nghẹn ngào nào, suốt những năm tháng ấy mẹ như đã mất đi linh hồn của mình, mẹ chỉ ở trong nhà, làm cỏ rẫy, cấy lúa như một người lạc vào khúc hoang hoải.

“Có ai, có ai lúc này đang đến được nơi đâu của người mẹ mất con?” Lúc ấy chỉ một vết thương cũng khiến mẹ đau lòng xót dạ mà giây phút thở bạo tin của các con về với mẹ, nỗi ân hận câm lặng như đất đá. Có chăng kịp chết lên một mặt mảnh xanh yên bình, mẹ phải lặng lẽ nuốt từng giọt lệ đắng vào trong khi con về với đất với hàng.

30 năm kháng chiến trường kì, ngày ấy đau thương mất mát cứ đổ dồn về mẹ, 9 người con ra đi không một ai trở về. Không những thế, người con rể Ngô Trung và con gái Ngô Thị Úc, Ngô Thị Ánh cũng hi sinh với mấy người. Nỗi đau thấu ruột nối đau với mẹ nặng đầy kỉ niệm đau, tháng 7 lại về trời đổ mưa ngâu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn