Bài viết

40 NĂM - MỘT MÙA XUÂN

Chiến tranh qua đi, dư âm còn vang vọng. Người ta vẫn nhắc đến chiến tranh với chút gì xót xa, nuối tiếc. Riêng anh, chiến tranh luôn nằm trong miền ký ức hào hùng, đầy hiểm nguy, gian khổ song rất đỗi tự hào về một mùa xuân chiến thắng - mùa xuân Mậu Thân - năm 1968...

Lào Cai08/12/2025Nguyễn Ngọc Yến (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Qua sự giới thiệu của Hội Cựu Chiến binh tỉnh tôi tìm gặp anh Phạm Tiến hiện là Chủ nhiệm CLB Yên Ninh để nhờ anh giúp gặp gỡ các anh, các chú đã từng tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 68. Trong những cái tên anh đưa ra, tôi đặc biệt chú ý đến cái tên nghe rất ư con gái: Hà Ngọc Lan, nguyên là Đại đội trưởng đại đội trinh sát 174- người đã trực tiếp chỉ huy đánh tan lữ đoàn 173 của Mỹ. Tôi quyết tìm gặp được anh- nhân chứng của lịch sử.

Đi dọc tuyến đường từ ngã tư Nam Cường xuyên ra phường Yên Ninh, tôi hỏi thăm nhà anh Lan- Liên (tên vợ) và được người ta chỉ sang ngôi nhà 2 tầng đang xây. Dừng trước cửa, tôi gặp hai người đàn ông đang xắn quần, xắn áo, hô hào xúc cát, trộn vữa. Tôi hỏi thăm:

- Bác làm ơn cho hỏi đây có phải là nhà anh Lan không ạ?

Người đàn ông gầy nhỏ, có nước da rám nắng quay ra nhìn tôi, đáp:

- Tôi là Lan đây, cô tìm tôi có việc gì không?

- Dạ, có chút việc đến nhờ anh ạ.

Dắt xe lên hè, tôi ngỏ ý muốn viết một bài về anh, trái với suy nghĩ của tôi, anh từ chối:

- Chúng tôi có gì để mà viết đâu, thời buổi bấy giờ cầm súng chiến đấu cũng chỉ như các cô bây giờ cầm bút đi viết thôi. Thành tích ấy à, có đầy người hơn tôi ấy chứ.

Tôi giải thích cho anh về nguyên do của việc tôi đến làm phiền anh giữa lúc anh bận rộn. Nghe chừng biết được câu chuyện, vợ anh từ trong nhà bước ra phân giải:

- Nhà báo đã nói thế thì anh xem thu xếp thời gian làm việc với cô ấy, mọi việc khác anh cứ để em lo.

Với chiếc xô bên cạnh, anh xúc đầy vữa cho thợ xách, không ngửng mặt lên, anh hẹn:

- Vậy chiều mai cô quay lại đây nhé...

Cũng đành vậy, tôi ra về. Ngày hôm sau, đúng giờ hẹn tôi đến nhà anh. Anh ăn mặc chỉnh tề, ngồi uống chè trên chiếc chiếu giải tạm dưới đất chờ tôi tự bao giờ. Thấy tôi, anh cười hiền:

- Cô vào trong nhà uống nước đã, nghỉ một lúc, tôi dẫn cô vào nhà trong làm việc cho yên tĩnh, ngoài này ồn quá.

Chưa được 5 phút, thấy tôi ra chiều suốt ruột, anh đứng dậy:

- Vậy ta đi luôn nhé.

Anh khoá cửa, dẫn tôi rẽ vào trong xóm chừng hai, ba trăm mét rồi dừng trước ngôi nhà rộng rãi, có vườn rau, ao cá. Anh giới thiệu:

- Đây là nhà chính của vợ chồng tôi, còn nhà ngoài đang xây là để cho thằng út. Nó đang học đại học trên Hà Nội, nhưng kệ, mình còn khoẻ thì cứ làm, không sau này già yếu có muốn cũng chẳng làm được nữa.

Vừa đi lấy nước pha trà, anh vừa kể:

- Quê tôi ở Chấn Thịnh (Văn Chấn- Yên Bái). Mẹ tôi mất từ khi tôi mới được 4 tuổi. Bố tôi lấy vợ hai, tôi được đưa về ở cùng bà ngoại. Được 8 tháng bà mang tôi cho một người phụ nữ ở Phú Thọ làm con nuôi. Từ đó tôi sống cùng mẹ nuôi cho đến khi trưởng thành. Năm 18 tuổi, tôi làm đơn xin nhập ngũ, nhưng xét hoàn cảnh gia đình chỉ có hai mẹ con nên chính quyền xã không cho đi. Không còn cách nào khác, tôi thuyết phục mẹ nuôi làm đơn, gặp chủ tịch xã xin nhập ngũ. Thấy tôi nhiệt tình quá, đồng chí chủ tịch đành chấp thuận. Vậy là tôi khoác ba lô với hai bộ quần áo lên đường nhập ngũ...

Lái câu chuyện sang chủ đề chính, tôi hỏi anh:

- Anh có nhớ khoảng thời gian trước khi anh tham gia chiến dịch Mậu Thân không?

- Có chứ. Mặc dù đã nhiều năm nhưng tôi vẫn nhớ chính xác từng khoảng thời gian mà mình tham gia công tác... Anh chậm rãi:

Sau nhiều năm vào Nam rồi lại quay ra Bắc, đầu tháng 3/1967 trung đoàn tôi được lệnh tiếp tục vào Nam. Tôi là lính trinh sát của Tiểu đoàn 1- trung đoàn 174- sư đoàn 316 Tây Bắc. Đồng chí Đoàn Văn Nguỵ lúc đó làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Trà làm chính uỷ. Không giống như các đơn vị khác là lực lượng bổ xung chỉ có nhiệm vụ hành quân vào Nam, đơn vị của tôi được trang bị vũ khí nên gặp địch ở đâu là đánh ngay tại đó. Tháng 10/1967 tôi vào đến Kontum tham gia trận đánh ở Tân Cảnh- Kontum sau đó quay ra đơn vị tập kết. Tại đó đơn vị được lệnh tiếp tục hành quân vào Đắc Tô- Kontum. Đây là nơi có nhiều mỏm núi đá, địa hình cao hơn 1000m so với mặt nước biển. ở giữa là vùng bằng phẳng rộng đến 20 ha, cây cối rậm rạp. Vào địa điểm mới được một tháng đơn vị của tôi lại được lệnh đi trinh sát, điều tra cứ điểm của lữ đoàn 173- lính thuỷ đánh bộ của Mỹ. Đây là đội lính chuyên nghiệp và tinh nhuệ của địch có khả năng đánh trên mọi địa hình.

Rót nước vào chén mời tôi, anh tiếp:

- Tôi nhớ hôm đó là ngày 11/11/1967, trung đoàn trưởng gọi tôi (lúc bấy giờ đã là Đại đội trưởng đại đội trinh sát) lên và giao nhiệm vụ trong vòng hai ngày phải hoàn thành. Trung đoàn trưởng chỉ trên bản đồ, giao nhiệm vụ cho tôi cùng một chính trị viên đại đội khác: “Các đồng chí phải đưa anh em từ nơi tập kết đến nơi trinh sát trong vòng hai ngày, vừa trinh sát đường đi lối lại, địa hình, vừa nắm tình hình địch, từ đó bố trí anh em đi sao cho hợp lý, tránh tổn thất đến mức tối đa”.

Nói thật với cô, nghe thủ trưởng giao nhiệm vụ thì lo lắm. Lúc bấy giờ, mọi thứ đều mới mẻ, mà điều kiện lại đầy rẫy những khó khăn. Địa hình xung quanh là rừng núi âm u, có những cây đã sống hàng trăm năm, phải mấy người ôm mới xuể. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi quyết định chọn 12 anh em trinh sát chuyên nghiệp, có trình độ để đi cùng. Đường đi không có hướng nào khác ngoài việc xuyên rừng theo bản đồ. Bốn bề xunh quanh là cây cối rậm rạp, pháo bắn, bom B52, phía dưới là hủm sâu, trên đầu máy bay địch lượn vòng quanh. Cả đoàn vừa đi, vừa nghe ngóng, không ai dám chặt cây, bẻ cành để lại dấu vết, cứ phải luồn cây mà đi. “Đi không dấu, nói không tiếng, đun không khói” là phương châm dịch chuyển của cả đoàn. Tôi- đại đội trưởng đại đội trinh sát dẫn đầu, lúc nào cũng kè kè máy bộ đàm, hễ đi đến đâu là gọi báo về đến đấy, anh em lặng lẽ theo sau, trên lưng lỉnh kỉnh nồi, gạo, mắm muối...

- Vậy việc ăn uống của mọi người thế nào hả anh? Tôi hỏi:

- Cũng đơn giản thôi cô ạ. Buổi sáng mình nấu cơm thì nắm luôn làm cơm ăn bữa trưa, đến tối mới dừng nghỉ. Cả đoàn lúc ấy mới chia nhau: người thì đi quan sát, người thì đun nấu, người đi kiếm thức ăn.

Tôi hỏi nhanh:

- Vậy anh có hoàn thành công việc sau hai ngày như thủ trưởng giao không?

- Dù cố gắng lắm nhưng vẫn chậm mất một ngày. Để tôi kể cô nghe:

Ngày thứ nhất trôi qua một cách xuôn sẻ. Ngày thứ hai tôi đặt mục tiêu phải hoàn thành công việc xác định vị trí, nơi đứng, cao điểm của quân ta và địch. Cuối cùng đến ngày 13/11/1967 công việc trinh sát đã hoàn thành bước đầu. Sang ngày thứ 3 tôi chia quân ra làm hai tốp để nắm tình hình địch. ý đồ của ta lúc đó là kéo lữ đoàn Mỹ ra xa để tạo điều kiện cho khu vực đồng bằng đánh, đồng thời kéo lên miền núi để phân tán lực lượng của địch. Nhưng tình hình anh em lúc này đã phần nào ngấm mệt, lương thực cũng vừa hết. Quay về không được, đành vừa đi vừa kiếm cái ăn. Thậm chí đói quá, không có gì ăn, thấy cơm thừa đoàn trước ăn đổ vào gốc cây đã khô lại anh em cũng nhặt về để rang lại ăn. Khó khăn là vậy nhưng anh em chúng tôi luôn bám sát mục tiêu địch tại vùng trung tâm Đắc Tô. Sau ba ngày đội trinh sát của chúng tôi đã xác định được vị trí đóng chốt của địch đồng thời đưa ra nhận định: từ đây địch muốn đánh đi các nơi khác thì nhất thiết phải đánh chiếm được mỏm đồi 183. Nắm rõ tình hình, biết địch sẽ tung quân đi trinh sát, tôi quán triệt anh em trong đoàn phải nhớ rõ: không để lại dấu vết giúp trinh sát của địch có thể phát hiện ra tung tích của quân ta, đồng thời không được đụng độ với địch. Trên đường đi, tai phải nghe, mắt phải nhìn, mũi phải ngửi. Đặc biệt phải để ý, nếu ngửi thấy mùi thuốc lá của địch (giống mùi xì gà) thì phải bật lửa nhìn xem ngọn lửa tạt theo hướng nào để xác địch vị trí của địch. Cứ sáng sáng cả đoàn đi các mỏm đồi trinh sát, đến tối về tập hợp nhau lại để thảo luận, vạch trên bản đồ xem địch tấn công ở đâu thì tránh. Trong vòng từ tháng 11 đến tháng 12/67 công việc trinh sát cơ bản đã xong, tôi có thể xác định được các mỏm đồi, khe suối, nơi để quân y, hậu cần, nơi tập kết, đường tiến, đường rút của quân ta trên bản đồ. Sau đó tôi để lại tổ tăng cường (gồm 5 đồng chí) để theo dõi xem máy bay B52 thả bom và pháo bắn vào thời điểm nào, giờ nào, tọa độ nào, địa điểm nào.... rồi quay trở về điểm tập kết báo cáo cho cấp trên. Lúc quay về cũng không hề đơn giản, tôi phải dẫn anh em đi làm ba đường, hễ địch đánh đường này thì tôi dẫn anh em đi đường khác. Đồng thời tôi huấn luyện anh em nắm rõ từng đường để sau này đưa bộ đội đến nơi đúng thời gian, không bị lạc đường.

Lúc quay về báo cáo với trung đoàn trưởng, đồng chí Đàm Văn Ngụy hỏi tôi:

- Đồng chí xem đã đánh được chưa?

Tôi trả lời ngắn gọn:

- Theo tôi thì ta có đủ cơ sở để tiến đánh rồi.

Sau đó tôi trình bày rất cụ thể trên bản đồ về đường đi lối lại, những đường, những điểm mà địch đã bắn về, đồng thời trình bày những hướng tấn công mới. Trung đoàn trưởng nhất trí và giao cho tôi nhiệm vụ đưa anh em đến cứ điểm chiến đấu một cách an toàn, ngoài ra tiếp tục trinh sát nắm bắt tình hình địch ở phía dưới. Nhận nhiệm vụ mới, trong đầu tôi chẳng còn nghĩ được gì ngoài việc phải làm thế nào để hoàn thành nhiệm vụ. Một bên là khó khăn về ăn uống, đi lại, sức khỏe của anh em; một bên là tìm cách đối phó với địch. Ngày 06/12/1967 trên điện về, giao nhiệm vụ tôi phải đón cán bộ các đơn vị đi vào các điểm đã trinh sát để nhận vị trí chiến đấu, có trung đoàn trưởng đi theo để giao nhiệm vụ cho từng cán bộ. Tôi, lúc bấy giờ có nhiệm vụ chỉ rõ từng nơi, từng đặc điểm của địa bàn trinh sát. Nghe xong các cán bộ tiểu đoàn họp lại, giao nhiệm vụ cho trinh sát tiểu đoàn nắm vị trí để đảm nhận công việc sau này. Trung đoàn trưởng có động viên tôi:

- Trận này có thắng hay không là do các đồng chí trinh sát, chúng tôi chỉ là phía sau, trinh sát vẫn là những người ở phía trước nắm tình hình. Tôi chỉ huy đơn vị nhưng chính là các đồng chí chỉ huy tôi.

Tôi biết đồng chí ấy nói thế không chỉ là động viên mà còn là nhắc nhở tôi về tầm quan trọng của bộ phận trinh sát, do đó hơn lúc nào hết tôi lại càng thấy lo. Thắng thì là hoàn thành nhiệm vụ, thất bại thì làm ảnh hưởng đến trận đánh lớn. Trong khi đó tình hình vẫn rất khó khăn, lữ đoàn 173 lại là đơn vị có tiếng từng chiến đấu trên nhiều mặt trận. Vào thời điểm ấy, “Trung đoàn 174” của ta phải thay tên bằng “công trường 18” để địch không biết đồng thời tổ chức phối hợp với sư đoàn 5 để đối phó với quân địch. Khoảng 20 ngày sau, toàn bộ lực lượng trinh sát của Mỹ đã tập hợp tại địa điểm tập kết. Ngày 25/12/1967 quân địch nghỉ lễ Nôen, sang ngày 26/12 Mỹ cho B52 ném bom suốt một ngày một đêm không ngớt, cứ 5 phút lại ném bom một lần.

Thấy không ổn, tôi vội quay về báo cáo với với trung đoàn trưởng, trung đoàn trưởng hỏi tôi:

- Bây giờ đồng chí nhận định ra sao?

Tôi quả quyết:

- Với tình hình này theo tôi phải đợi chúng ném bom khoảng chừng 10 ngày nữa, sau đó quân ta mới có thể tấn công được. Trung đoàn trưởng cứ yên tâm, chúng tôi sẽ báo trước 02 ngày trước khi quân địch đổ bộ.

Có lẽ anh mải say sưa với dòng ký ức nên quên mất rằng mình đã nói to khiến cho đứa cháu nhỏ bên giường giật mình khóc oe oe. Con gái anh đang giặt quần áo ngoài sân vội chạy vào bế con sang phòng bên để anh tiếp tục nói chuyện. Nhìn hai mẹ con nựng nhau, anh cười gượng:

- Đấy cái tính tôi nó vô tâm thế đấy, cũng giống như hôm trước cô đến, tôi mải làm quên mất không mời cô vào nhà chơi, lại để cô về luôn.

Tôi vội đỡ lời:

- Không có gì đâu anh, à mà làm thế nào anh xác định được thời điểm địch nổ súng?

- ừ thì khi tôi quay về điểm tập kết, tình hình vẫn không có gì biến chuyển. sang ngày thứ 3 tôi thấy có dấu hiệu bất thường, quân địch bắn pháo, chặn đường, máy bay lượn tầm thấp tầm cao suốt cả ngày. Biết chắc chỉ sáng hôm sau thể nào quân địch cũng dọn bãi đổ bộ, tôi bố trí anh em xung quanh, sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Đúng 8h sáng địch cho quân đổ bộ xuống thung lũng, củng cố công sự, tấn công các mỏm đồi. Cách đánh của chúng cũng rất khác, ngày nào cũng như ngày nào địch tấn công ta từ 8h sáng đến 3h chiều, chúng không bao giờ đánh đêm, đánh lẻ...

Qua trinh sát, họp bàn anh em chúng tôi đã đưa ra nhận định: ngày mai quân địch sẽ tấn công mỏm đồi 183- mỏm đồi cao nhất nên đồng loạt đều thống nhất tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Hôm sau, suốt từ sáng đến chiều địch 8 lần tấn công ta nhưng không được đành rút quân, ta lại củng cố công sự. Tôi dẫn 2 anh em trinh sát cùng đến mỏm đồi 183 để xem xét tình hình. Trong số 25 người thì 5 người bị thương, 01 đồng chí tham mưu bị hi sinh.

Thấy tình hình có phần bất lợi, tôi trở về đề nghị trung đoàn trưởng tiếp viện cho đơn vị này. Trung đoàn trưởng vỗ vai tôi:

- Cậu muốn bổ xung quân trinh sát nhưng cậu phải biết rằng: các ông bố, bà mẹ miền Bắc đã phải gửi đến đứa con thứ ba của mình vào trong này rồi. Cậu mà không biết động viên, bảo vệ tính mạng cho anh em là cậu có tội với tổ quốc...

Nghe thủ trưởng nói thế tôi thấy ý thức rõ hơn về trọng trách mình mang theo. Vấn đề chính bây giờ là phải làm thế nào để đưa quân tiếp viện đến nơi an toàn giữa lúc chiến sự vô cùng ác liệt. Tính toán kỹ, tôi dẫn anh em đi vòng ra xa để tránh pháo bắn. Cách mỏm đồi chừng 200m, tôi cho anh em đào công sự để chờ tấn công. Chờ đến ngày thứ 3 trung đoàn trưởng cho lệnh xuất phát đánh từ phía sau nhưng địch rút không đánh, ta cũng đành rút quân đợi lệnh.

- Vậy tình hình sau đó thế nào hả anh? Tôi nối mạch câu chuyện.

- Hôm 25 tết, quân ta có lệnh tạm dừng, không được nổ súng để ăn tết. Riêng chúng tôi vẫn tiếp tục công việc trinh sát đến 29 tết để nắm tình hình địch. Ngày 30 tết anh em hậu cần đang chuẩn bị gói bánh trưng theo tiêu chuẩn (mỗi người nửa lạng thịt lợn, 1 lạng gạo nếp) thì trên lệnh xuống không được gói bánh mà nấu cơm chờ lệnh chiến đấu. Anh emmỗi người một nắm cơm nếp, một miếng thịt, quay về vị trí đợi lệnh chiến đấu. Thời khắc giao thừa cũng là lúc trên lệnh xuống kiểm tra lực lượng, ổn định vị trí để 01h sáng đồng loạt nổ súng. Đúng 01h sáng ngày mồng một tết Mậu Thân tức ngày 29/1/1968, quân ta đồng loạt nổ súng. Ta đánh về sở chỉ huy của địch ở Đắc Tô- Kon Tum, quân địch cố sống cố chết kháng cự lại. Tôi và 2 anh em trinh sát khác, cùng 1 trung đoàn trưởng, 1 tham mưu trưởng, 1 cán bộ tiểu đoàn trưởng lên trinh sát trên mỏm đồi 183. Bố trí thế trận lúc ấy là: ta ở lưng đồi, địch ở phía dưới. Đúng lúc đoàn đang đi thì bắt gặp 03 tên lính Mỹ đi ra suối lấy nước, thấy bóng địch tôi lấy súng AK bắn chết 03 tên, địch chết lăn xuống dưới vực. Nghe tiếng súng ba tên khác vòng trở lại và lập tức bị tôi hạ gục. Lính nguỵ nghi ngờ bị đánh úp từ phía sau nên vội vàng bỏ chạy, quay về chỉ huy sở. Địch cố thủ đến mùng 4 tết rồi quay lại tấn công ta, đồng thời xin thêm quân tiếp viện. Nhưng toàn bộ lực lượng tiếp viện đã bị tiêu diệt, chỉ huy sở không còn khả năng bám trụ. Mùng 6 tết địch buộc phải rút khỏi Đắc Tô quay lại sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi lại cùng anh em ở lại trinh sát thêm 03 ngày nữa. Đến mùng 10 tết (07/2/1968) thì toàn bộ anhem rút về hậu cứ cách đó 8 km...”

Anh kể về những tháng ngày sau đó, về những đợt chuyển quân, xuất phát, chuyển vùng chiến đấu mới. Tôi ngồi nghe mà không giấu nổi lòng cảm phục trước những năm tháng mà anh đã trải qua. Nhưng nghe anh kể tôi cứ thấy có cái gì đó gờn gợn mà không thể gọi tên. Chợt nhìn thấy chị Liên khệ nệ bê chậu quần áo ra phơi tôi bỗng à lên một tiếng. Tôi nói như thể anh và tôi đã là những người thân thiết:

- Từ nãy giờ tôi toàn nghe anh nói về chiến tranh, hết xuất ngũ rồi lại nhập ngũ, vậy thời gian đâu mà anh lấy vợ nhỉ?

- Thì mãi năm 40 tuổi tôi mới lập gia đình. Lúc đó tôi là thương binh không thể trực tiếp cầm súng chiến đấu đành về địa phương công tác. Năm 84 sinh con gái đầu lòng, năm 86 thì có cậu út.

Anh đứng dậy đi ra ngoài vườn, tôi bước theo anh. Anh khoát tay về phía những cành cây đang đâm chồi, nảy lộc giữa tiết trời xuân, anh nói:

- Nhìn quanh cảnh hôm nay mà tôi lại nhớ đến những ngày tháng năm ấy,khi chiến tranh kết thúc cũng là lúc nhìn lại tuyến đường mà anh em đi trinh sát, thật chẳng còn gì ngoài những gốc cây trơ rễ, đất cát thì bị xới tung...

Tôi hỏi vui:

- Vậy anh có nhớ lúc đó mình thế nào không?

Anh cười xoà như thể tôi đã hỏi một câu hỏi đương nhiên phải thế.

- Thế nào ư? Cô cứ tưởng tượng tham gia trận đánh mấy tháng liền, người không tắm, quần áo không thay, râu tóc cứ tha hồ mà mọc. Nhìn ai cũng chỉ thấy hai con mắt. Chẳng biết cô có tin không, chứ lúc tôi quay về báo cáo với trung đoàn trưởng, tôi cứ đứng mãi chẳng dám ngồi vì quần áo lúc ấy rách bươm hết cả. Trung đoàn trưởng thấy vậy mới chằm chằm nhìn tôi: “Cậu này lạ nhỉ? Cậu là khúc gỗ hay sao mà cứ đứng mãi thế, ngồi xuống đi...”.

Cả tôi và anh cùng cười, cái cười ha hả của anh không giấu được sự vô tư, lạc quan của người lính trẻ năm xưa. Còn tôi, tôi cười cái cười im lặng, giấu trong ánh mắt đầy tự hào và thán phục.

Mải nói chuyện, nắng đã ngả tự lúc nào. ánh nắng vàng trùm lên những cành cúc vàng, những lộc đào mới nhú làm cả khu vườn như sáng bừng lên vào cuối ngày. Không khí xuân đã tràn ngập trên từng luống hoa chậu cảnh. Đàn cá dưới ao quẫy đuôi tung tăng khoe sống lưng đen thẫm, đàn gà con líu ríu tìm mồi. Anh tranh thủ lấy ít thóc vãi ra sân, cả đàn gà mấy chục con xô nhau chạy lại. Anh cười, những nếp nhăn đã bắt đầu hằn lên trên khuôn mặt:

- Nghĩ cũng lạ, lúc quay về hậu cứ mình chẳng còn biết cảm giác của mình như thế nào nữa, chỉ thấy sướng và buồn ngủ. Bị đói bao nhiêu ngày mà đến khi được ăn uống đoàng hoàng thì mắt mình cứ díu cả vào...

Anh tiễn tôi ra về, rẽ vào ngôi nhà hai tầng anh đang xây dở. Phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp... đều đẹp đẽ, tiện nghi. Tôi đứng trên tầng hai nhìn xuống đường; người, xe tấp nập, chậu hoa tết nhà ai vẫn kẽo kẹt trên đường. Tôi thốt lên:

- Sắp tết rồi.

Anh trầm ngâm:

- Tết rồi, nhanh thật, mới đó mà đã 40 năm rồi đấy...

Tôi chào anh ra về, không hiểu sao trong đầu tôi cứ ám ảnh mãi bởi khuôn mặt hốc hác, sạm đen khói súng trở về sau trận đánh. Với tôi, đó là hình ảnh đẹp không chỉ của riêng anh mà của cả lớp thanh niên lúc bấy giờ. Các anh đã quên đi bản thân, quên đi cái tôi của chính mình để hết lòng xả thân vì sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do của đất nước. Đó mãi mãi trở thành những trang sử vẻ vang đầy tự hào cho một dân tộc không bao giờ cúi đầu trước giặc ngoại xâm. Để hôm nay, một mùa xuân mới lại đến - mùa xuân của bình yên và hạnh phúc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn