40 NĂM NGÀY MẤT TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN (10/7/1986 – 10/7/2026): NGƯỜI ĐƯỢC BÁC HỒ GỌI TỪ RỪNG U MINH RA GÁNH VÁC SỨ MỆNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

🇻🇳 40 NĂM NGÀY MẤT TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN (10/7/1986 – 10/7/2026): NGƯỜI ĐƯỢC BÁC HỒ GỌI TỪ RỪNG U MINH RA GÁNH VÁC SỨ MỆNH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Có một câu hỏi rất đáng để suy ngẫm.
Năm 1957, khi miền Bắc không hề thiếu những cán bộ tài năng, vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại quyết định gọi đồng chí Lê Duẩn từ chiến trường miền Nam, từ rừng U Minh trở ra Trung ương để đảm nhận cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng?
Đó không phải là một sự lựa chọn ngẫu nhiên. Đó là quyết định của một thiên tài, của bậc Thánh Nhân Hồ Chí Minh.
Bởi trong số những người lãnh đạo lúc bấy giờ, đồng chí Lê Duẩn là người hiểu miền Nam sâu sắc nhất. Ông đã sống, chiến đấu, lãnh đạo cách mạng ngay trên mảnh đất ấy, hiểu từng con người, từng địa bàn, từng khó khăn, từng thời cơ và hơn hết là hiểu con đường nào có thể đưa dân tộc đến ngày thống nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định muốn giải quyết đúng vấn đề thì phải giao cho người hiểu vấn đề nhất.
Và lịch sử đã chứng minh tầm nhìn ấy hoàn toàn đúng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và sau này là Tổng Bí thư Lê Duẩn, đường lối cách mạng giải phóng miền Nam được kiên định thực hiện qua nhiều giai đoạn đầy gian khổ.
Đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, khi lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, khép lại hơn hai mươi năm chia cắt, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Đó là thắng lợi của cả dân tộc, của biết bao thế hệ đã hy sinh, đồng thời cũng là minh chứng cho tầm nhìn chiến lược của những người lãnh đạo đã chèo lái con thuyền cách mạng trong những thời khắc cam go nhất.
---
Tổng Bí thư Lê Duẩn có rất nhiều công lao đối với đất nước.
Từ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, xây dựng đường lối cách mạng miền Nam, đến những quyết sách trong giai đoạn đất nước vừa thống nhất.
Nhưng trong phạm vi bài viết này, kênh Nhân vật lịch sử muốn tập trung đến một khía cạnh ít được nói tới hơn.
Đó là tầm nhìn chiến lược về độc lập kinh tế và vấn đề Hoa kiều.
📌 Xin lưu ý: Bài viết này chỉ phân tích các quyết sách của lãnh đạo Việt Nam trong bối cảnh lịch sử cuối thập niên 1970 và đầu những năm sau thống nhất đất nước. Nội dung không nhằm quy chụp, kỳ thị hay chia rẽ cộng đồng người Hoa hiện tại; mọi đánh giá đều hướng đến việc nhìn nhận lịch sử trong đúng bối cảnh của nó.
Chỉ cần nhìn vào bức tranh kinh tế Đông Nam Á hiện nay, chúng ta sẽ thấy một thực tế rất đáng chú ý.
Ở nhiều quốc gia trong khu vực, cộng đồng người Hoa chỉ chiếm từ vài phần trăm đến vài chục phần trăm dân số nhưng lại nắm giữ tỷ trọng rất lớn của khu vực kinh tế tư nhân.
Tại Indonesia, người Hoa chiếm khoảng 2–3% dân số nhưng từ lâu đã có vai trò rất lớn trong nhiều lĩnh vực kinh doanh và nhiều tập đoàn tư nhân lớn.
Tại Thái Lan, nhiều tập đoàn hàng đầu như CP Group, Central Group hay ThaiBev đều được sáng lập hoặc điều hành bởi các gia đình gốc Hoa.
Ở Malaysia, cộng đồng người Hoa giữ vai trò quan trọng trong thương mại và công nghiệp, là một trong những lý do dẫn đến việc nước này triển khai Chính sách Kinh tế Mới (NEP) từ năm 1971 nhằm điều chỉnh cơ cấu phát triển.
Philippines cũng có nhiều doanh nhân gốc Hoa nằm trong nhóm giàu nhất đất nước và có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực bán lẻ, bất động sản, ngân hàng.
Singapore thì khác, bởi người Hoa chiếm đa số dân số nên vai trò chi phối về kinh tế và chính trị là điều dễ hiểu.
Myanmar, Campuchia hay Lào cũng đều ghi nhận ảnh hưởng đáng kể của các mạng lưới doanh nhân người Hoa trong thương mại và đầu tư.
Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử, chính sách và mô hình phát triển khác nhau, nên không thể đánh đồng hay rút ra một kết luận đơn giản. Tuy nhiên, có thể thấy rằng ở nhiều nước Đông Nam Á, cộng đồng doanh nhân gốc Hoa đã giữ vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế tư nhân.
Việt Nam cũng từng có một giai đoạn như vậy.
Trước năm 1975, đặc biệt tại khu vực Chợ Lớn ở miền Nam, cộng đồng Hoa kiều có vai trò nổi bật trong hoạt động thương mại, sản xuất và xuất nhập khẩu.
Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Trung Quốc xấu đi cuối thập niên 1970 và xảy ra chiến tranh biên giới năm 1979, lãnh đạo Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách liên quan đến quản lý kinh tế, quốc tịch, an ninh và hoạt động của một bộ phận Hoa kiều.
Những quyết sách này chịu tác động của bối cảnh an ninh, đối ngoại và mô hình kinh tế của thời kỳ đó, đồng thời đến nay vẫn là chủ đề được các nhà nghiên cứu tiếp tục phân tích từ nhiều góc độ.
Điều đáng chú ý là Tổng Bí thư Lê Duẩn nhiều lần nhấn mạnh rằng độc lập dân tộc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo đảm sự tự chủ về kinh tế.
Có những quyết định khi được đưa ra đã gây nhiều tranh luận. Nhưng sau 2 -3 thập kỷ người ta mới có đủ khoảng cách lịch sử để nhìn nhận và đánh giá.
Nhìn lại Đông Nam Á hôm nay, Việt Nam có một cấu trúc kinh tế khác với nhiều nước trong khu vực. Vai trò của cộng đồng doanh nghiệp người Hoa tồn tại nhưng không ở mức chi phối nền kinh tế quốc dân như tại một số quốc gia khác.
Điều đó là kết quả của rất nhiều yếu tố: bối cảnh lịch sử, chính sách kinh tế qua nhiều thời kỳ, quá trình đổi mới, sự phát triển của khu vực doanh nghiệp trong nước và những lựa chọn chiến lược của nhiều thế hệ lãnh đạo.
Có thể mỗi người sẽ có cách nhìn khác nhau về từng chính sách cụ thể.
Nhưng có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng Tổng Bí thư Lê Duẩn là một nhà lãnh đạo luôn đặt vấn đề độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia lên hàng đầu.
40 năm đã trôi qua kể từ ngày ông đi xa.
Nhưng dấu ấn của người học trò gần gũi, xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn in đậm trong những trang sử của dân tộc.
Có những quyết sách chỉ vài năm đã thấy kết quả, nhưng cũng có những quyết sách phải mất hàng chục năm, thậm chí cả một thế hệ mới chứng minh được giá trị. Tầm nhìn của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là một trong những quyết sách như thế.
🇻🇳 Xin thành kính tưởng nhớ , tri ân và đời đời biết ơn cố Tổng Bí thư Lê Duẩn – người chiến sĩ cộng sản kiên trung, người đã dành trọn cuộc đời mình cho độc lập, thống nhất và sự phát triển của Tổ quốc.
-----------


