50 NĂM NHỚ LẠI CUỘC TRUY KÍCH XỐP NHÔM
Đoạn hồi ức tái hiện cuộc truy kích đầy kịch tính của các chiến sĩ Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174) trong những ngày đêm băng rừng, lội suối với trang bị thiếu thốn và cái đói bủa vây. Từ tình huống "ngàn cân treo sợi tóc" suýt nổ súng nhầm vào đồng đội trong đêm tối đến những bữa ăn dã chiến chỉ có cháo loãng hay cá suối không muối, đoạn kể làm nổi bật tinh thần quyết tâm sắt đá và sự mưu trí của người lính cụ Hồ. Bằng cách kết hợp linh hoạt giữa bao vây khống chế và vận động quần chúng, đơn vị đ
Đã nửa thế kỷ trôi qua mà như mới đây thôi, đoàn chúng tôi vừa hành quân qua Cò Nòi, Hát Lót, cụm cứ điểm Nà Sản địch đã rút chạy năm xưa hướng về ngã ba Tuần Giáo thì được lệnh bôn tập tiêu diệt quân địch từ Lai Châu chạy về Điện Biên Phủ... Với chức vụ trung đội trưởng b1/c673/d251, tôi chỉ biết động viên mình và động viên anh em: “Đoàn chúng ta đã đi là đến, đã đánh là thắng”, còn đi đường nào, đánh ở đâu tôi nào có biết. Thế là ngày đêm bám sát nhau cắt rừng, băng suối. Mãi tới chiều tối ngày 12/12/1953 mới nhìn mờ mờ thấy mục tiêu sẽ tấn công. Và đêm đó trung đội tôi, chủ công trong đội hình đại đội, đã nổ súng tấn công bọn địch co cụm tại một bản người dân tộc. Trận chiến diễn ra mau lẹ nhưng diệt địch chưa được bao nhiêu. Tảng sáng 13/12 phát hiện một đường rộng chừng 1m, xiên lên núi lau lách bị dạt còn mới. Tôi vừa báo cáo đại đội trưởng H. Tân vừa cho anh em lần theo dấu vết tìm địch, ngay sau đó cũng được lệnh của C nhanh chóng truy kích diệt địch tháo chạy.
25 anh em không còn cơm ăn, nước uống, ba lô nhẹ tõm trên vai, có người 1 súng, có người 2 súng (1 súng K50 đã hết đạn vẫn còn đeo bên người vì đây là loại súng mới trang bị của Liên Xô viện trợ), 1 súng lấy được của địch như Tuyn, Tôm-Sơn. Tôi còn khẩu Pít-tô-lê Mát gọn nhẹ đeo thêm hòm đạn trung liên cho Sằn cứ thế bám theo dấu vết địch. Gần trưa thấy đường tách làm hai ngã cùng hướng, tôi nắm 2 a đi theo cánh trái vì đường này to hơn, tôi đoán chủ yếu địch chạy theo đường này, còn Thoảng nắm 1 a đi theo đường cánh phải. Đi mãi đến tối mịt, tôi nhìn thấy ánh lửa lập loè, phán đoán có thể là địch, hoặc bản làng. Bám sát mục tiêu còn cách khoảng vài trăm mét, nghe văng vẳng tiếng người nói, chúng tôi bàn nhau áp sát. Gặp một tảng đá bên bờ suối cạn, tôi cho đặt khẩu trung liên sẵn sàng nhả đạn, kéo đội hình lên phân công nhiệm vụ. Vì rừng rậm trước mắt chỉ có một con suối cạn, thỉnh thoảng còn từng vũng nước nhỏ, nên chúng tôi định vừa nổ súng, vừa xung phong và hình thành thế bao vây diệt địch thực hiện “Mãnh đả, mãnh xung, mãnh truy” mà chúng tôi học được ở Lục Quân khoá 6 bên Trung Quốc.
Trung liên đã sẵn sàng, tiểu đội 1 và 2 bí mật bò lên thì bỗng nghe tiếng anh Thoảng nói “Khoái khoái mừ ơi nọi lai lố” (nhanh nhanh mày ơi, đói lắm rồi). Hoá ra đây là tiểu đội 3 đến trước chúng tôi khi hai đường gặp nhau. Tôi toát mồ hôi và thầm nghĩ, nếu vội vàng cho nổ súng thì một số anh em sẽ ngã gục tại đây, tội lỗi và nỗi ân hận sẽ đeo đẳng suốt đời tôi.
Mới xa nhau một buổi gặp lại tay bắt mặt mừng, A3 còn ít gạo sấy cho vào ống bơ, bi đông nấu cháo mỗi người húp lưng cháo loãng. Chúng tôi tạm dừng lại vì trời tối đen như mực, thay nhau canh gác và nghỉ ngơi dành sức cho cuộc truy kích tiếp theo. Tôi cứ băn khoăn đặt nhiều câu hỏi: Địch đã đi đến đâu? Liệu có đuổi kịp chúng hay không? Đang trao đổi với mấy đồng chí tiểu đội trưởng cùng các chiến sỹ gần đó thì đại đội trưởng H. Tân và mấy chiến sỹ đi cùng đã tới, đằng sau là b2 + b3 + đại đội bộ và chính trị viên phó tiểu đoàn Quốc Tường lần lượt tới.
Chúng tôi lại tiếp tục đuổi theo địch tới một khúc suối rộng và sâu, cá dồn về nhiều, chúng tôi được phép dùng bộc phá đánh cá. Một tiếng nổ “ục”, cá nhao lên khá nhiều. Anh em vớt lên nướng ăn thay bữa. Cá không muối không cơm, ăn vào no bụng, nhưng người mệt nhoài. Tuy nhiên vẫn phải tiếp tục truy kích. Khoảng 15h00 tổ đi đầu báo cáo có bản phía trước. Tôi nép vào gốc cây và quan sát thấy trong bản có người, có lừa ngựa, đoán chắc gặp địch đây rồi. Tôi báo cáo đại đội trưởng H. Tân. Anh lệnh cho tôi thọc thẳng vào bản gặp địch đâu đánh đó. Tôi đề nghị anh: bên phải bản là dãy đồi dân trồng trọt, bên trái bản là con suối, nếu ta cho một bộ phận vòng bên phải chiếm dãy đồi không chế, uy hiếp địch, đại bộ phận vào chiếm bản sẽ có lợi hơn. Anh H. Tân đồng ý. A1/b1 nhận nhiệm vụ này đã nhanh chóng thực hiện ý định chiếm dãy đồi khống chế, b1 + b2... chia nhau thành từng mũi tiến vào bản. Không thấy địch, chỉ thấy dân khá đông trong các nhà sàn và mấy chục con ngựa rải rác trong bản. Chúng tôi được lệnh chốt các đường, khống chế các ngõ ngách “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”, rồi chia thành từng khu vực để các a, b vào từng nhà làm công tác tuyên truyền vận động nhân dân phát giác địch. Chẳng mấy chốc bọn địch kéo ra hàng, chúng đã trút bỏ hết quân phục, giấu súng đạn trà trộn trong dân. Suốt đêm hôm đó, được nhân dân giúp đỡ, chúng tôi có xôi ăn, nước uống để làm nhiệm vụ truy lùng bọn địch, thu vũ khí, quân trang, quân dụng và lừa ngựa. Sáng hôm sau, chúng tôi liên hoan nhẹ nhàng nhưng đầm ấm với dân bản (đây chính là bản Xốp Nhôm) và tổ chức cơ động về Điện Biên Phủ. Sau a1/b1 là chính trị viên phó Quốc Tường, đại đội trưởng H.Tân, 2 người, 2 ngựa cùng đoàn quân chiến thắng nhằm hướng Điện Biên thẳng tiến...


