6. Viết về Phan Đình Phùng
Viết về Phan Đình Phùng
Thân thế
Phan Đình Phùng (1847 – 1895), tự hiệu Châu Phong, là một nhà thơ tài danh và là vị lãnh tụ kiệt xuất của cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Ông sinh ra và lớn lên tại làng Đông Thái, huyện La Sơn (nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ), tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình dòng dõi nho học khoa bảng. Cha ông là Phó bảng Phan Đình Tuyến, các bác ruột là chí sĩ Phan Đình Thông và Cử nhân Phan Đình Thuật, còn chú ruột là Phó bảng Phan Đình Vận.
Chốn quan trường
Năm 1876, Phan Đình Phùng thi đỗ Cử nhân. Ngay năm sau (1877), ông tiếp tục đỗ Đình nguyên Tiến sĩ và được triều đình bổ nhiệm làm Tri huyện Yên Khánh (tỉnh Ninh Bình). Tại đây, với tính tình cương trực, ông đã thẳng tay cho đánh đòn cố đạo Trần Lục (tục gọi là cụ Sáu) vì ông này thường cậy thế ức hiếp dân lành. Do sự việc này, ông bị triều đình khép tội, triệu hồi về kinh đô Huế nhưng sau đó lại được sung chức Ngự sử tại Đô sát viện.
Tại triều đình, ông luôn thẳng thắn tố cáo nhiều vụ việc khuất tất. Chính vì vậy, vua Tự Đức đã từng ban lời khen ngợi: "Thử sự cửu bất phát, phùng Phùng nải phát" (việc này đã lâu không ai phát giác ra, nay gặp Phùng mới phát hiện được), khiến danh tiếng về sự cương nghị, chính trực của ông ngày càng vang xa.
Năm 1882, ông dâng sớ đàn hặc Thiếu bảo Nguyễn Chánh về tội "ứng binh bất viện" (nắm giữ quân quyền nhưng ngồi yên, không đi tiếp viện) khi quân Pháp tấn công thành Nam Định, đồng thời phê phán vị đại thần này không mảy may quan tâm đến tình cảnh của nhân dân Bắc Kỳ.
Năm 1883, do bất đồng quan điểm sâu sắc với Phụ chánh Đại thần Tôn Thất Thuyết trong việc phế truất vua Dục Đức để lập vua Hiệp Hòa, ông bị cách chức và đuổi về quê nhà. Đến năm 1884, Phan Đình Phùng được phục chức, rồi được bổ nhiệm làm Tham biện Sơn phòng Hà Tĩnh.
Hưởng ứng dụ Cần Vương
Năm 1885, cuộc phản công kinh thành Huế do phe chủ chiến phát động thất thủ, vua Hàm Nghi phải dời giá ra Tân Sở (Quảng Trị) lánh nạn. Gạt bỏ mọi hiềm khích cá nhân trước đây, Phan Đình Phùng đã đồng lòng hiệp lực cùng Tôn Thất Thuyết để chống Pháp. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của nhà vua, dù đang trong thời gian chịu tang mẹ, ông vẫn đứng ra chiêu tập lực lượng nghĩa quân từ khắp các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình để đứng lên chống giặc ngoại xâm.
Phan Đình Phùng được vua Hàm Nghi phong chức Tán lý Quân vụ, trở thành vị thủ lĩnh tối cao lãnh đạo nghĩa quân xây dựng căn cứ vững chắc tại hai huyện Hương Sơn (đồn Hà Tân) và Hương Khê (đồn Quy Hợp, nay thuộc Phú Gia, Hà Tĩnh). Sát cánh cùng ông có các bậc trí thức như Tiến sĩ Phan Trọng Mưu, Cử nhân Phan Quảng... cùng nhiều võ tướng dũng cảm xuất thân từ tầng lớp nông dân và các thành phần xã hội khác như Cao Thắng, Cao Nữu, Lê Ninh, Nguyễn Chanh, Nguyễn Trạch, Lê Văn Tạc, Phan Đình Phong, Phan Đình Can...
Suốt mười năm ròng rã (1885 – 1896), bất chấp mọi hiểm nguy và gian khổ nơi rừng sâu nước độc, cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo đã giao chiến với quân Pháp nhiều trận oanh liệt, gây cho đối phương những tổn thất hết sức nặng nề, mà tiêu biểu nhất là chiến thắng Vụ Quang vào năm 1894.
Nhận thấy không thể dùng sức mạnh quân sự để tiêu diệt cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp đã xoay sang dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc Phan Đình Phùng. Chúng lợi dụng các cựu thần và cộng sự cũ của ông như Lê Kinh Hạp, Phan Trọng Mưu, Võ Khoa, Hoàng Cao Khải viết thư viện dẫn "tình xưa nghĩa cũ" để khuyên hàng, nhưng trước sau ông vẫn một lòng cự tuyệt. Không lay chuyển được ý chí của vị thủ lĩnh, người Pháp lại sai Nguyễn Thân cùng các thế lực tay sai ra sức đàn áp dã man, thậm chí bắt giữ thân nhân và khai quật mồ mả tổ tiên ông, song tất cả vẫn không thể làm ông sờn lòng.
Năm 1893, danh tướng Cao Thắng tử trận, khiến Phan Đình Phùng mất đi một cánh tay đắc lực. Đến năm 1895, Pháp điều Nguyễn Thân đến phối hợp với Công sứ Nghệ An là Duvillier, thống lĩnh 3.000 quân lính tiến hành cuộc càn quét đại quy mô hòng bóp nghẹt cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Lực lượng chủ lực của Phan Đình Phùng bị bao vây chặt chẽ và cô lập các ngả đường tiếp viện, dẫn đến tình trạng vũ khí, lương thực và quân số đều thiếu thốn trầm trọng mà không thể bù đắp. Mỗi khi bị đối phương tấn công, nghĩa quân chỉ có thể di chuyển quanh co từ núi Quạt sang núi Vụ Quang, không thể bám trụ tại một địa điểm quá 3 ngày.
Dù trong tình thế hiểm nghèo, vào ngày 17 tháng 10 năm 1894, Phan Đình Phùng vẫn tập hợp lực lượng và chủ động giáng cho địch một đòn đau đớn. Ông cho quân lên tận nguồn sông chặt cây đóng kè để ngăn nước lại, đồng thời chuẩn bị sẵn rất nhiều khúc gỗ lớn. Khi quân Pháp và quân triều đình thân Pháp hành quân đến giữa dòng sông, ông hạ lệnh phá kè trên nguồn, cho nước lũ đổ về và tuôn các khúc gỗ lớn xuống hạ lưu. Đối phương phần bị nước cuốn trôi, phần bị cây lao trúng người, lại bị nghĩa quân phục kích hai bên bờ đồng loạt xông ra đánh nên chịu thương vong vô số. Theo các tài liệu lịch sử, sau trận chiến này, phía Pháp ngoài việc tổn thất nặng nề về quân trang, đạn dược còn bị tiêu diệt ba sĩ quan và hơn một trăm lính.
Đây cũng là trận thắng lớn cuối cùng của nghĩa quân, bởi ngay sau đó, vòng vây của gần 3.000 quân do Nguyễn Thân cầm đầu ngày càng xiết chặt. Trong một trận giao tranh ác liệt, Phan Đình Phùng bị thương nặng và đã anh dũng hy sinh vào ngày 28 tháng 12 năm 1895.
Mười hai ngày sau khi vị thủ lĩnh qua đời, quân của Nguyễn Thân mới tiếp cận được núi Vụ Quang và núi Quạt. Tại đây, Nguyễn Thân đã tàn bạo cho quật mộ của Phan Đình Phùng ở chân núi Quạt, đổ dầu đốt cháy thi thể ông thành tro, sau đó trộn vào thuốc súng bắn xuống dòng sông La.
Bước sang đầu năm 1896, do phải sống lâu ngày nơi rừng sâu nước độc, các tướng lĩnh chỉ huy của nghĩa quân lần lượt qua đời vì bệnh tật, một số tử trận hoặc bị bắt, số khác phải rút chạy sang Xiêm La hoặc ra hàng. Cuộc khởi nghĩa Hương Khê vang dội do Phan Đình Phùng cùng các cộng sự dày công gây dựng đến đây chính thức khép lại, đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX.



