60 năm Chiến thắng Bình Giã
Chiến thắng Bình Giã là một trong những chiến công đầu tiên của bộ đội chủ lực Miền, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương, đánh địch ở qui mô cấp chiến dịch. Chiến dịch đã để lại dấu ấn và nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó phương thức tác chiến chính quy có vai trò, vị trí hết sức quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội chủ lực đánh bại các đơn vị chủ lực và các loại hình tác chiến của địch, làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường.
Đồng thời, chiến thắng Bình Giã đánh dấu sự phát triển của chiến tranh nhân dân; bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức chỉ huy, hiệp đồng tác chiến, bảo đảm hậu cần kỹ thuật của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương. Thắng lợi của chiến dịch mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng miền Nam; đồng thời, khẳng định khả năng và vai trò của lực lượng vũ trang nói chung và bộ đội chủ lực Miền nói riêng.
Bước vào năm 1964, trước sức mạnh của cách mạng miền Nam, chương trình bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn với “quốc sách ấp chiến lược” về cơ bản đã bị đánh bại. Để tạo bước tiến mới cho cách mạng miền Nam, tháng 9/1964, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn về cách mạng miền Nam. Nhận định tình hình địch trên toàn chiến trường đang ngày càng lún sâu vào thế bị động và cơn khủng hoảng chính trị, hệ thống ấp chiến lược của địch tại nông thôn đã bị phá rã, phá banh từng mảng lớn. Bộ Chính trị nêu lên năm công tác trước mắt cần thực hiện cho kỳ được; trong đó, nhấn mạnh phải: Phối hợp đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận, tranh thủ thời cơ cố gắng đánh bại hoàn toàn quân đội Sài Gòn trước khi quân Mỹ nhảy vào[1].
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, cuối tháng 10/1964, Trung ương Cục xác định nhiệm vụ của cách mạng miền Nam những năm 1964-1965 là tranh thủ thời cơ thuận lợi, liên tục tiến công địch làm cho mưu đồ tập trung quân đánh phá và gom dân lập ấp chiến lược của địch bị thất bại, tiêu diệt sinh lực của chúng nhiều hơn nữa, đồng thời khẩn trương xây dựng thực lực ta, nhất là lực lượng vũ trang ba thứ quân, tạo ra những điều kiện cần thiết để năm sau có thể mở ra cục diện to lớn cho phong trào, tiến lên giành thắng lợi quyết định. Quán triệt chỉ thị của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền vạch kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1964-1965, quyết định huy động phần lớn bộ đội chủ lực, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang các địa phương mở chiến dịch đầu tiên trên đất miền Đông Nam Bộ nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực của địch, làm chuyển biến cục diện có lợi cho ta, hỗ trợ nhân dân phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng, củng cố, nối liền các căn cứ Nam - Bắc Đường 2 (Bà Rịa), bảo vệ các bến tiếp nhận hàng đường biển; rèn luyện, nâng cao trình độ chiến thuật của bộ đội chủ lực, đặc biệt là chiến thuật đánh vận động. Phương châm tác chiến: Hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích, tiến công địch từng bước, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt gọn. Kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận và nổi dậy của quần chúng, phá ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng.
Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát thực địa, Bộ Chỉ huy Miền quyết định chọn các tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Thuận với diện tích gần 500km2 làm địa bàn tác chiến chiến dịch, trong đó xác định hướng chủ yếu là Bà Rịa - Long Khánh, hướng phối hợp là Nhơn Trạch, Long Thành (Biên Hòa) và Hoài Đức, Tánh Linh (Bình Thuận). Ấp Bình Giã (thuộc Chi khu Đức Thạnh) được chọn làm điểm khêu ngòi. Bộ Tư lệnh Chiến dịch gồm: Tư lệnh Trần Đình Xu; Chính ủy: Lê Văn Tưởng. Lực lượng tham gia Chiến dịch gồm 2 trung đoàn (761, 762); 3 tiểu đoàn (500, 800/Quân khu 7, 186/Quân khu 6); Đại đội 445 (Bà Rịa) cùng du kích trên địa bàn chiến dịch. Ngoài ra có đoàn pháo binh Biên Hòa và lực lượng phòng không.
Trước ngày mở Chiến dịch Bình Giã, lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ đã đẩy mạnh hoạt động tiến công địch trên khắp chiến trường nhằm nghi binh, thu hút, căng kéo, phân tán sự đối phó của địch. Sau quá trình khẩn trương chuẩn bị, tạo thế chiến dịch, ngày 2/12/1964, ta nổ súng tiến công địch. Quyết định mở Chiến dịch Bình Giã thể hiện thống nhất tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm tiến công địch của cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp từ Trung ương đến cơ sở; đồng thời, thể hiện sự tập trung trí tuệ, phân tích, nhận định đúng tình hình, xây dựng quyết tâm giành thắng lợi nhằm tạo chuyển biến quan trọng cho cách mạng miền Nam. Thời điểm này, đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ kinh tế, quân sự cho chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh xây dựng quân đội với quân số đông[2], trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, áp dụng chiến thuật mới “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, cơ động nhanh lực lượng bằng đường bộ, đường không để thực hiện bao vây, tiến công hợp điểm.
Đợt 1 (2 - 17/12/1964), ta sử dụng 1 đại đội bộ đội địa phương để đánh “khêu ngòi”, đánh bại cuộc hành quân “Bình Tuy 33” của quân đội Sài Gòn đến giải tỏa, tiêu diệt Chi đoàn 3 thiết giáp. Đợt 2 (27/12/1964 - 3/1/1965), ta tập trung toàn bộ lực lượng, cài thế, kéo địch đến để đánh những trận quyết định bằng các hình thức chiến thuật tập kích, phục kích, tiến công địch đổ bộ đường không. Trong quá trình thực hành tác chiến, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nói chung và bộ đội chủ lực nói riêng đã kịp thời rút kinh nghiệm sau trận đánh, tổ chức huấn luyện bổ sung, khắc phục những hạn chế, thiếu sót để giành thắng lợi các trận tiếp theo. Khi đánh “khêu ngòi” trong Đợt 1, do sử dụng lực lượng chưa phù hợp khi địch phản kích, ta không trụ lại được và chưa tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu tiến công địch ngoài công sự. Rút kinh nghiệm từ những hạn chế trên, quân chủ lực đã đánh thắng các trận then chốt của chiến dịch. Trung đoàn 2 đã tổ chức vận động phục kích, thực hiện chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt đội hình và đánh bại cuộc hành quân “Bình Tuy 33” của địch.
Từ kinh nghiệm Đợt 1, ta tập trung toàn bộ lực lượng trên khu vực Bình Giã, Đức Thạnh và Đường 2, dùng hỏa lực uy hiếp mạnh Chi khu quân sự Đức Thạnh, buộc địch phải ứng cứu. Lực lượng của Trung đoàn 1 sẵn sàng vận động tiến công tiêu diệt địch ứng cứu bằng đường bộ hoặc đường không. Đêm 27/12/1964, ta tiến công và làm chủ ấp chiến lược Bình Giã; ngày 28/12, địch điều Tiểu đoàn 33 biệt động quân để ứng cứu. Đúng như nhận định, ta đã bố trí lực lượng phòng không, bắn hạ nhiều máy bay, địch không thể đổ bộ xuống Đông Bắc Bình Giã, buộc phải đổ bộ xuống Đông Nam Bình Giã, lọt vào trận địa phục sẵn của Trung đoàn 1. Khi quân Tiểu đoàn 33 của địch vừa đổ bộ xuống đất liền bị hỏa lực của ta tiêu diệt. Sau 7 ngày chiến đấu trong Đợt 2, ta giành thắng lợi lớn và kết thúc chiến dịch vào ngày 3/1/1965.
Trải qua hơn 1 tháng tiến hành chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.700 tên địch (hàng chục cố vấn Mỹ), bắt gần 300 tên; phá hủy 45 xe quân sự (phần lớn là xe M113, có 2 xe tăng M41); bắn rơi và bắn hỏng 56 máy bay; thu hơn 1.000 súng các loại và 100 máy thông tin; diệt gọn Tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến, Tiểu đoàn 33 biệt động quân và một chi đoàn xe cơ giới M113 (thuộc Thiết đoàn 1); đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn khác và nhiều đại đội[3]. Thắng lợi của chiến dịch đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong và ngoài địa bàn, phá vỡ nhiều ấp chiến lược trên Đường số 2 và ở các huyện Đất Đỏ, Long Thành, Nhơn Trạch, ven biển Hàm Tân, mở rộng vùng giải phóng, xây dựng và củng cố căn cứ tiếp nhận sự chi viện bằng đường biển từ miền Bắc vào miền Nam.
Qua hai đợt chiến dịch, hiệu suất trong các trận đánh cho thấy sự phát triển vượt bậc về chiến thuật, đặc biệt là nghệ thuật “tạo thế, khêu ngòi” để điều viện binh địch. Mặt khác, các đơn vị chủ lực đã vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, phù hợp với khả năng, cách đánh, diễn biến trận đánh, luôn tạo được thế chủ động để đánh địch. Đây là một thành công nổi bật của công tác tổ chức tác chiến, lựa chọn phương pháp tác chiến chiến dịch, cách đánh trong huấn luyện chiến thuật cho bộ đội để tham gia các trận đánh giành hiệu suất chiến đấu cao.
Chiến thắng Bình Giã không chỉ đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của quân chủ lực Miền mà còn góp phần phát triển nghệ thuật chiến dịch trong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực tế Chiến dịch Bình Giã cho thấy, chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng xây dựng và hoàn thiện cách đánh của bộ đội chủ lực theo phương thức “đánh lớn” (tác chiến tập trung), đánh vận động chiến là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với qui luật phát triển của chiến tranh giải phóng. Chiến thắng Bình Giã đặt ra yêu cầu cấp bách là phải kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng lực lượng chủ lực và cách đánh của bộ đội chủ lực theo hình thức vận động chiến: “đánh điểm, diệt viện”, lấy tiêu diệt quân địch ngoài công sự là chủ yếu. Đây là điều kiện quan trọng để ta luôn giữ vững thế chủ động trên chiến trường, liên tục tiến công, giáng cho quân Mỹ và quân đội Sài Gòn những đòn đích đáng, bảo đảm cho cách mạng miền Nam tiếp tục phát triển, giành được những thắng lợi mới to lớn hơn và đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Chiến thắng Bình Giã chỉ rõ sự thất bại tất yếu của Mỹ trên chiến trường miền Nam, như Tổng Bí thư Lê Duẩn nhận định: “Kể từ trận Ấp Bắc, Mỹ thấy không thể thắng ta được, đến trận Bình Giã thì Mỹ thấy sẽ thua ta trong Chiến tranh đặc biệt”[4]. Bài học quý về phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong Chiến dịch Bình Giã không chỉ được vận dụng, đem lại hiệu quả trong các chiến dịch tiếp sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà còn có giá trị to lớn đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay. Đó là một cơ sở thực tiễn quý báu, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng phù hợp, góp phần xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
[1] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb CTQG-ST, H, 2015, tr.243.
[2] Đến năm 1964, lực lượng quân đội Sài Gòn có gần nửa triệu tên, gồm 245.000 quân chủ lực (10 sư đoàn) và 226.000 lính bảo an… (Dẫn theo: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Nxb QĐND, H, 1995, tr.274).
[3] Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, H, 2004, tr.160-161.
[4] Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự thật, 1986, tr.71



