Bài viết

9.  CHUYỂN HẬU CỨ (1)

Hưng Yên28/01/2026thanh tung (phường trà lý)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

9. CHUYỂN HẬU CỨ

Ngày 30/12/1972, chúng tôi được lệnh rút khỏi Đắk Siêng, xuôi về Tân Cảnh, vượt sông Pô Cô, leo qua Ngọc Bờ Biêng cao ngất, sang Kleng, tới vùng núi Chư Mom Ray, một trong những đỉnh núi cao nhất Tây Nguyên, tìm vị trí để chuyển hậu cứ từ Tà Cơi ra.Sáng hôm sau, đúng ngày 1/1/1973, ngày tôi tròn hai mươi tuổi, chúng tôi tiếp tục lên đường. Bữa sáng hôm đó nồi cơm bị khê, điều mà cánh lính chúng tôi hay kiêng kỵ, anh em đổ lỗi cho nhau, có ý kiến bảo không nên đi, nhưng việc quân đâu phải trò đùa.

Xuống chân núi, chúng tôi đi dọc con đường do công binh mở để đánh Kleng năm ngoái. Từ sáng sớm, thấy chiếc L19 bay lượn tít trên cao, chúng tôi bảo nhau phải ngụy trang cẩn thận và giữ đúng đội hình hành quân. Đi được một đoạn thì gặp tốp lính văn công lỉnh kỉnh đàn nhị, lễ mễ ba lô, không đội hình, không ngụy trang đi cùng chiều phía trước. Thấy vậy, chúng tôi nhắc họ cẩn thận kẻo máy bay trinh sát phát hiện,Họ không quan tâm lời cảnh báo đó, vẫn nghênh ngang, lộ liễu. Phòng tình huống xấu, chúng tôi hội ý, khi nhóm văn công nghỉ thì mình vượt lên, khi mình nghỉ thì để họ đi trước, cự ly khoảng cách giữa họ và chúng tôi phải là 100 mét. Càng đi đường càng trống trải, hai bên đường toàn bụi le gầy, cỏ tranh và gai xấu hổ. Trên trời cao xanh ngắt, nắng như đổ lửa, chiếc L19 vẫn vè vè đeo bám khiến chúng tôi càng sinh nghi.

Gần trưa, khi cánh văn công vừa vượt qua chúng tôi chừng trăm mét,lọt thỏm vào giữa một bản hoang, thì chiếc L19 bất ngờ cắm đầu phóng hỏa mù vào giữa đội hình của họ. Nhanh như cắt, hai chiếc AD6 không hiểu xuất hiện từ đâu ra, nhào xuống sát mặt đường ném bom bắn phá. Chúng dùng chiến thuật ném bom phát quang chặn hai đầu, ném bom phá và bom sát thương đoạn giữa. Lúc này đội hình của chúng tôi cũng vừa chớm vào vùng oanh tạc của máy bay địch. Cả đơn vị mạnh ai người đó chạy. Tôi và Hiệp cùng chạy về bên trái đường, lao vào rừng le, vùi đầu vào gốc cây tránh bom. Đất đá, cành cây bay rào rào, lửa khói mù mịt, khét lẹt. Trong nguy nan, rất may hai đứa phát hiện một vỏ bom bi mẹ, như chiếc thuyền con úp ngược, vội lật lên đội lên đầu để cốt giữ “gáo”. Phải đến 15 phút sau đợt bắn phá mới dứt, tiếng máy bay địch xa dần, chúng tôi liền vùng dậy chạy ra khỏi khu vực nguy hiểm sợ bọn địch có thể trở lại ném bom tiếp. Khi chạy trở lại tới đường thì đã thấy xác anh emvăn công nằm trên mặt đất. Hình như tất cả bảy người đó hy sinh cả. Thật đáng buồn cho họ vì quá chủ quan khinh địch và phải trả giá quá đắt. Gần một tiếng sau chúng tôi mới tập hợp đông đủ và may mắn là không ai bị thương.

Riêng tôi, được một kỷ niệm khó quên vì xuýt nữa thì sinh tử cùng ngày cùng tháng. Còn Hiệp, sau giải phóng Miền Nam được ra Bắc, đi Tiệp học nghề, về nước lấy vợ, sau chuyển về Hà Nội sinh sống. Năm 2007 Hiệp bị ung thư và mất. Hôm đưa tiễn Hiệp xuống đài hóa thân hoàn vũ, tôi gai người vì phải chứng kiến cảnh người ta đưa nó vào lò thiêu xác. Còn Hòa, vợ Hiệp vốn là cô gái hàng xóm ngày xưa của nó thì ngất lên ngất xuống. Mối tình của hai đứa cùng phố đó, tôi được Hiệp kể cho nghe trong cái lần đi trinh sát Ban Mê Thuột.

Sau trận oanh tạc đó, bọn địch phát hiện ra khu vực này có quân ta nên không ngừng lùng sục, trực thăng UH1 liên tục quần đảo sát ngọn cây từ trưa cho đến chiều, chỗ nào nghi ngờ là nã đạn 20 ly xuống. Thêm một kho gạo của ta gần đó bị phá hủy, nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng đã đến được hậu cứ mới an toàn. Thời kỳ này anh Nguyễn Như Đới quê Khoái Châu, Hưng Yên làm đại đội trưởng, anh Phạm Thế Dân người Ninh Bình làm chính trị viên trưởng của C17. Đơn vị được bổ sung một số lính mới như Thư, Ơn quê Lạng Sơn và y tá Đoàn quê Vĩnh Phú.

Hậu cứ mới với mật danh H3 là một khu rừng tái sinh với những dải đồi như bát úp, cao độ chỉ vài trăm mét, gần cao điểm Ngok Dơ Lang, thuộc vùng đệm của Chư Mom Ray. Có lẽ trước đây là vùng nương rẫy của đồng bào nên còn nhiều dấu vết đã từng có người ở. Dọc hậu cứ là con suối trong xanh nhưng rất nhiều cá, tôi vốn sát cá từ hồi còn ở nhà nên thường xuyên được đơn vị giao nhiệm vụ đi câu cá. Đất ở đây tuy không màu mỡ như hậu cứ cũ Tà Cơi nhưng đủ để nuôi sống cả sư đoàn. Đường Hồ Chí Minh mới mở cách đây không xa về phía tây, còn phía đông là con đường chiến lược xuyên qua cánh rừng le, sát chân Ngọc Bờ Biêng, nối cao điểm 830 với KLeng. Vì thế nên cả Trung đoàn đã chọn đây làm hậu cứ mới. Sau khi ổn định lán trại, hầm hào, toàn đơn vị tập trung phát nương làm rẫy.

Cùng thời gian này, Hội nghị Pa Ri xắp đến hồi kết nên khắp mặt trận xảy ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Đêm 26/1/1973, tổ đài C17 do thiếu úy đại đội phó Bùi Minh Tâm phụ trách cùng Trung đội phó Trần Viết Phán, Tiểu đội phó Quý “xịt”, Hồ Tít, Đăng Nhật và 2 chiến sĩ thông tin 2W của C18 được giao nhiệm vụ lên cắm cờ giữ đất trên mỏm 751B. Khi tới gần đỉnh chốt, pháo của địch tại Bãi Ủi bắn lên dữ dội, một trái pháo rơi cách đội hình tổ trinh sát 5m, mảnh pháo phá hỏng chiếc máy 2W ngay trên tay anh Tâm, một mảnh khác xuyên thủng báng khẩu AK rồi cắm thẳng vào túi đeo bản đồ mà anh Tâm không hề hấn gì. Đến giờ cắm cờ theo quy định, khi bên ta dựng cờ giải phóng lên thì đã thấy quân địch từ mỏm 751A vượt yên ngựa tràn sang định chiếm nốt cao điểm 751B, toàn tổ sẵn sàng nổ súng. Trước tình thế đó, anh Tâm nhanh trí cuộn cuốn sổ tay làm loa yêu cầu địch lùi lại 100 mét và cử đại diện không mang vũ khí lên nói chuyện.

Sáng hôm sau, đúng ngày ký Hiệp định Pa Ri 27/1/1973, anh Tâm chỉ huy anh em làm gấp một cái lán để đón tiếp đối phương. Trong lần giáp mặt lịch sử đó, anh Tâm đã trổ tài binh vận và còn tự tay cắt tóc cho 3 tên lính ngụy. Kết quả thật không ngờ, 9 giờ tối hôm đó, viên Thiếu úy đại đội phó Nâu và Thượng sĩ trung đội trưởng Tuấn cùng 22 lính ngụy, súng ống chỉnh tề đã đào ngũ sang ta. Anh Tâm đề nghị cấp trên cử người lên tiếp nhận họ ngay trong cái đêm lịch sử đó.

Trong khi đó ở hậu cứ H3, đúng sáng 27/1/1973, khi đang phát rẫy làm nương, chúng tôi thấy những chiếc máy bay sơn cờ Liên Hợp Quốc bay lượn trên trời để giám sát lệnh ngừng bắn. Qua làn sóng Đàì tiếng nói Việt Nam, chúng tôi được biết Hội nghị Pa – Ri đã kết thúc thắng lợi, Mỹ sẽ rút quân. Như vậy là xương máu của bao người ngã xuống, nhất là tại chiến trường Kon Tum, Quảng Trị với mùa hè đỏ lửa 1972 và Thủ đô Hà Nội với 12 ngày đêm kiên cường đánh trả B52 mới có được kết quả đó. Trong niềm vui lớn lao đó, đơn vị chúng tôi mở cuộc liên hoan nhỏ, hôm đó anh em bắn được con cầy hương, anh Tấn y tá cất được nồi rượu, cả đơn vị cùng nâng bát chúc mừng thắng lợi, đây là lần đầu tiên trong đời tôi uống rượu và bị say bất tỉnh,anh Tấn phải trổ tài cứu chữa.

Sau khi Hiệp định Pa Ri được ký kết, Trung đoàn 40 được giao nhiệm vụ tham gia giữ vững vùng mới giải phóng ở khu vực ráp gianh Võ Định – Bãi Ủi – Do Lai – Non Nước – Krong Trung Nghĩa, vòng cung từ phía bắc đến phía tây thị xã Kon Tum. Đại đội chúng tôi cũng cử người tham gia các hướng đó. Số còn lại tập trung về hậu cứ H3 tăng gia.

Những ngày tiếp theo, đơn vị cử người thay nhau trở về hậu cứ cũ Tà Cơi, cách vài ngày đường để vận chuyển kho tàng, đồ đạc của cá nhân và đơn vị sang H3. Trong một lần về hậu cữ cũ gùi đồ, Thành “đen” bị sốt và tụt lại phía sau, anh em tá hóa quay lại tìm nhưng không thấy. Thành được một trạm xá cứu chữa, nhưng lại bị tiêm trúng giây chằng gây khập khiễng mãi về sau. Đợt đấy chúng tôi bị phê bình vì bỏ rơi đồng đội, còn Thành sau đó được ra Bắc và đi Liên Xô học, nay đã là Phó Giáo sư trường Đại học nông nghiệp Hà Nội. Gần chục năm trước, vợ Thành mải băng qua đường tàu bị tàu hỏa cán chết, tôi và anh Thụy sang dự đám tang thấy Thành khóc thương vợ đến não lòng.

Một chiều tháng 10/1973, tôi được cử lên Trung Đoàn nhận công văn, thư từ. Từ đơn vị lên Trung Đoàn chừng một giờ là tới, xong việc tôi trở về, có rẽ vào một đơn vị tăng gia nghỉ chơi ít phút. Thấy trời xắp tối, các anh bảo tôi ngủ lại mai về, tôi tự tin bảo vừa đi vừa chạy chắc về kịp. Đi được chừng 15 phút, mới khoảng hơn 6 giờ chiều sao trời sập tối nhanh thế. Đúng là “ngày tháng Mười chưa cười đã tối”, tôi bắt đầu lo lắng và đi nhanh hơn, nhưng đường rừng mờ dần. Tôi dừng chân xoay người định hướng, nhưng càng xoay người càng mất hướng, đụng đâu cũng vấp cây rừng. Tôi hoảng thực sự và cứ thế lao bừa vào đêm đen vô vọng. Loay hoay một lúc lâu, biết là không thế cố đi được, tôi nghĩ ra cách giải thoát và trèo lên ngọn cây bóp cò từng phát một. Nghe tiếng súng, anh em đơn vị tăng gia lúc nãy biết ngay là tôi bị lạc liền nổ súng trả lời và cử người đi tìm tôi. Theo tiếng súng nổ, tôi tụt xuống và băng mình tìm về hướng đó, đến nỗi tụt xuống cả hố bom, tôi vùng dậy đi tiếp, rồi lại lao vào giữa bụi mây, gai cào toạc quần áo, da thịt rách nhàu, máu chảy lênh láng. Tôi không thấy đau mà chỉ thấy sợ vì vùng này có hổ. Ngay như chuồng lợn của đơn vị còn phải cắm chông nứa dày đặc đề phòng hổ trộm lợn. Vùng vẫy gần tới sáng, tôi cũng đến được với người ra ứng cứu. Sáng sau tôi trở về đơn vị trong tình trạng nhàu nát và bị mọi người chê cười vì lính trinh sát mà lại bị lạc đường.

Sau Tết 1973, tất cả đơn vị lại ra nương, những danh hiệu “dũng sĩ”,“kiện tướng” được trao cho những ai có nhiều sáng kiến nương làm rẫy. Để đạt hiệu quả cao, đỡ tốn sức, chúng tôi chọn những cây to, thân nghiêng chặt trước, khi cây đổ sẽ kéo theo cả một vạt rừng đổ theo. Đợi cây héo lá, chúng tôi leo lên băm các cành lớn, dàn đều mặt nương rồi châm lửa đốt. Khi đốt nương phải lựa theo chiều gió để ngọn lửa cháy đều, cháy hết. Sau khi mặt nương đã được dọn sạch, tro than nguội hẳn, đợi một chút mưa xuống thì chọc lỗ, tra hạt. Khi đó, cả đơn vị dàn hang ngang làm từ đỉnh nương xuống, người đi trước hai tay hai gậy gỗ vót nhọn, chọc nhẹ xuống mặt nương tạo nên những hàng lỗ đều đặn, thẳng hàng để người đi sau tra hạt. Sau mỗi buổi ra nương về, mặt mũi ai cũng nhọ nhem đen xì đầy bụi than, tranh nhau ra suối tắm gội và trêu đùa vui vẻ.

Tới khi lúa chín, chúng tôi lại nhộn nhịp khắp cánh rừng, mặt nương đi tuốt lúa. Lúa nương vốn rất dễ rụng nên không thể hái bằng liềm mà phải tuốt bằng tay và bỏ vào cái teo, giống như cái giỏ không hom đeo trước bụng. Khi chưa quen tuốt lúa, đôi bàn tay thường bị rách tứa máu bởi những hạt thóc đầy lông nhọn sắc. Hội thao tuốt lúa thật vui, có anh tuốt giỏi được cả tạ thóc trong ngày. Vui nhất là bữa cơm gạo mới, bát cơm 100% không có độn, lại có thịt heo rừng, cá suối, rau xanh và tạm quên đi các món rau rừng quen thuộc nhưng khó nuốt. Mừng gạo mới, đơn vị còn bày chuyện làm bánh bún rôm rả. Cối giã bột làm bún là gốc cây rừng loại gỗ tốt, cưa thật bằng cách mặt đất chừng ba bốn mươi phân, rồi lấy tăng hoặc áo mưa quấn tròn xung quanh là thành cối. Có một lần, do trộn lẫn thuốc mìn C2 vào sắn khô giã làm bột chế nước chấm măng luộc, cả đơn vị bị ngộ độc miệng nôn trôn tháo và bất tỉnh, may có anh Tâm bị nhẹ điện cho y tế Trung Đoàn xuống cứu chữa kịp thời.

Dạo ấy, đơn vị cử tôi, Hiệp, Văn, Tỉnh, Hộ, Lộc … đi tham gia hội diễn văn nghệ của Trung Đoàn. Mất gần tháng trời luyện tập, xắp đến lượt biểu diễn thì nhận tin đơn vị gọi khẩn trương cắt đường tới tọa độ X…Y…để đánh địch nhảy dù lấn chiếm. Thế là đành bỏ dở hội diễn lên đường làm nhiệm vụ. Điểm tọa độ theo quy định thì đã tìm được mà địch thì chẳng thấy đâu. Lúc này mới biết đó chỉ là tình huống báo động giả.

Cũng thời gian này, ngoài nhiệm vụ tăng gia, chúng tôi được học tập, huấn luyện kỹ hơn về nghiệp vụ trinh sát, kế toán pháo binh. Do điều kiện chiến trường, chúng tôi phải chép tay tỷ mỷ bảng bắn Logarit, coi đó là cẩm nang, gia tài quý nhất cho nghề trinh sát pháo. Để rèn luyện kỹ năng, đơn vị thường tổ chức thi thời gian tính toán xác định tọa độ và phần tử bắn. Mỗi lần thi như thế, ai cũng phấn chấn và nhanh nhẹn khác thường.

Lần khác, tôi cùng anh Tài, Chính trị viên phó đại đội đi làm nhiệm vụ. Sau khi lội qua bãi lầy nhung nhúc đỉa phía sau hậu cứ H3, xem bản đồ cắt rừng đi tiếp, tới khi trời xẩm tối thì anh Tài lên cơn sốt. Nhìn anh nằm đắp chăn rung võng mà tôi lo quá. Anh bảo tôi lấy thuốc nivaquyn và silanh ra tiêm vào mông cho anh. Nào tôi đã biết tiêm chọc gì. Anh bảo cứ bình tĩnh cầm thẳng silanh chọc dứt khóat vào mông anh. Tôi run quá lại ấn từ từ nên anh càng đau. Tôi lại rút kim tiêm ra, loay hoay một lúc rồi cũng tiêm xong. Nhờ mũi tiêm đó, sáng sau anh cắt sốt và chúng tôi lại lên đường. Thật tình cờ, năm 1977, anh Tài lên Cao Bằng điều tra lý lịch kết nạp đảng cho cậu Dư, may mắn thế nào lại gặp đúng tôi để hỏi nhà ông Bí thư chi bộ khu phố. Ông bí thư tên là Nông Văn Đàn, nguyên là cận vệ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời chống Pháp, ở ngay sau nhà tôi. Đúng là quả đất tròn và số phận người lính cứ quấn lấy nhau. Vài năm sau đó, theo chủ trương tăng cường cán bộ cho địa phương, anh Tài được về làm Bí thư huyện Đoàn Đăk Lây, Kon Tum. Giờ anh là chủ một đại lý sách báo tại Thành phố Hải Phòng.

Cũng tại H3, một tin xấu đến với đơn vị, anh Thiều Đình Bảy, Đại đội phó đã hy sinh. Hôm ấy anh từ trên cao điểm gần 751 xuống núi một mình và bị bọn thám báo phục kích bắn trộm, anh chạy được một quãng thì gục xuống trong tư thế nằm xấp, đè lên túi đựng bản đồ trinh sát, một tay đặt vào bao súng ngắn như sẵn sàng chống trả. Sau khi bắn anh, bọn thám báo cũng bỏ chạy luôn, anh em trên núi chạy xuống thì anh đã tắt thở. Một bài học đau sót và kinh nghiệm xương máu cho đơn vị, vì đã chủ quan mất cảnh giác để anh Bảy đi một mình trong vùng chiến sự. Nhận tin đó tôi buồn lắm vì chính anh là người ra binh trạm T3 nhận chúng tôi về, anh đã dạy tôi nhưng kỹ năng cơ bản của người lính trinh sát trong chuyến đi trinh sát Play Cần hồi tháng 10 năm 1972. Nghĩ càng thương anh nhiều vì anh là cán bộ xông xáo, tài giỏi, luôn ở tuyến trước, ít khi có mặt ở hậu cứ. Tính anh trầm và ít nói, tôi thì chưa được biết kỹ về anh.

Có một chuyện tình cảm đặc biệt xảy ra giữa lính với lính. Ngay từ ngày mới vàò C17, chúng tôi thấy vài cặp đôi quấn quýt nhau như hai người khác giới. Những năm sau này, hiện tượng đó càng phổ biến. Nhất là đối với những người lính đã vào chiến trường lâu năm. Tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ rơi vào tình trạng khó xử đó.Nhưng rồi vào một ngày đầu năm 1973, tôi chợt nhận ra sự quan tâm và tình cảm khác thường của anh Tấn y tá quê Hoài Đức, Hà Tây giành cho tôi. Khi tôi ốm đau anh tỏ ra lo lắng và chăm sóc khác hẳn với người khác. Thế rồi anh lẳng lặng viết thư về gia đình tôi tận Cao Bằng để xin phép được coi tôi là người em kết nghĩa, thấy tôi thờ ơ, tránh né, anh rất buồn. Rồi tôi cũng quen dần với cách cư xử rất lạ của anh. Nhưng chính nhờ mối quan hệ đặc biệt ấy mà sau này chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc, thăm hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Hoàn cảnh gia đình anh Tấn rất khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, anh lại đau ốm thường xuyên. Vài năm gần đây, kể từ ngày Hà Tây nhập vào Hà Nội, gia đình anh Tấn được đền bù kha khá do nhà nước thu hồi ruộng để quy hoạch xây đô thị mới. Có tiền, anh xây 2 cái nhà to đùng, cưới vợ gả chồng cho 3 đứa con, thế là anh đổi đời, khiến tôi vui lây. Bất giác tôi liên tưởng đến các cặp đôi khác, như Phồn -Thạch, Thế – Dư, Phán – Đức, Phương – Điền… Cũng may chiến tranh đã kết thúc, nếu không chuyện tế nhị ấy sẽ hành hạ những người lính đến bao giờ.

Đồng bào Tây Nguyên cùng bộ đội kéo pháo vào trận địa

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
9.  CHUYỂN HẬU CỨ (1) | Câu chuyện thời hoa lửa