Anh hùng Lực lượng vũ trang

A NUN – NGƯỜI ANH HÙNG PA CÔ TRÊN TUYẾN VẬN TẢI TRƯỜNG SƠN

Anh hùng LLVTND A Nun (sinh năm 1945), người dân tộc Pa Cô, quê xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, là một tấm gương đặc biệt trên tuyến vận tải chiến trường. Từ năm 14 tuổi, A Nun đã tham gia gùi hàng; từ mức 20 kg, ông kiên trì rèn luyện nâng lên 50, 70, 80 rồi thường xuyên 90 kg. Có lần ông mang tới 190 kg, đồng thời sáng tạo nhiều phương pháp cải tiến dây mang, làm bè, cầu treo và vận chuyển khí tài nặng qua địa hình hiểm trở. Năm 1968, trung đội do A Nun chỉ huy dẫn đầu năng suất toàn ngành vận tải bộ. Ông 4 năm liền là Chiến sĩ thi đua (1965–1968) và ngày 20/12/1969 được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Quảng Ninh22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những chiến công được ghi bằng tiếng súng.

Có những chiến công lại được tạo nên bằng đôi vai, đôi chân và sức chịu đựng phi thường của con người.

Trong những năm chiến tranh ác liệt, trên những con đường xuyên rừng, vượt núi, qua sông của tuyến vận tải, có một người chiến sĩ Pa Cô từng gùi những khối hàng nặng đến mức khó tin.

90 kg là mức ông thường mang.

150 kg dây điện thoại trong một chuyến.

Một chiếc máy nổ 173 kg, ông xung phong mang một mình.

Và có lần đột xuất, khối lượng hàng trên vai A Nun lên tới:

190 KG

Người chiến sĩ ấy là A Nun.

Từ cậu bé Pa Cô đến người chiến sĩ vận tải

A Nun sinh năm 1945, dân tộc Pa Cô, quê xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Ông sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng có truyền thống cách mạng. Theo tài liệu tuyên dương, Anh hùng Vai là chú, Anh hùng Lịch là chị của A Nun.

Mới 11 tuổi, A Nun đã tình nguyện làm nhiệm vụ liên lạc, bảo vệ tuyến đường và theo dõi tình hình đối phương để báo cho cán bộ.

Đến năm 14 tuổi, ông bắt đầu tham gia vận chuyển hàng cho mặt trận trên tuyến A Lưới.

Có lần đang vận chuyển thì gặp đối phương.

A Nun bình tĩnh cải trang, giữ được bí mật của tuyến đường và bảo vệ an toàn số hàng đang mang.

Ngày 1/7/1961, A Nun chính thức tham gia cách mạng.

Sau khi hoàn thành một chuyến vận chuyển từ Quảng Trị vào Quảng Nam, thay vì trở về, ông xung phong ở lại tuyến vận tải.

Tháng 3/1962, A Nun nhập ngũ.

Từ đây, những cung đường vận tải trở thành chiến trường của người thanh niên Pa Cô.

Từ 20 kg đến 90 kg mỗi chuyến

Những ngày đầu, A Nun chỉ mang được khoảng 20 kg hàng.

Nhưng ông không bằng lòng với khả năng của mình.

A Nun kiên trì rèn luyện, nghiên cứu cách mang vác và từng bước nâng khối lượng:

20 kg → 50 kg → 70 kg → 80 kg.

Đến năm 1968, A Nun thường xuyên mang khoảng:

90 KG HÀNG MỖI CHUYẾN

Và trong một trường hợp đột xuất, tài liệu ghi nhận ông đã mang tới 190 kg.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở sức khỏe.

A Nun luôn suy nghĩ:

Làm thế nào mang được nhiều hơn?

Làm thế nào đi nhanh hơn?

Làm thế nào giảm sức người?

Làm thế nào đưa hàng tới phía trước sớm hơn?

Chính từ những câu hỏi rất thực tế ấy, nhiều sáng kiến ra đời.

Không chỉ khỏe – A Nun còn là người rất sáng tạo

A Nun nghiên cứu cải tiến dây mang, giúp dây chắc, bền hơn, mang được nhiều hàng mà giảm sức lao động.

Ông nghiên cứu cách làm bè vượt sông.

Khi một nòng pháo quá nặng, thông thường phải cần tới 8 người khiêng, đường lại hẹp và cầu nhỏ khiến việc vận chuyển càng khó khăn.

A Nun tìm ra cách bố trí để chỉ cần:

3–4 NGƯỜI

vẫn có thể đưa nòng pháo vượt qua những đoạn đường hẹp.

Sáng kiến ấy không chỉ tiết kiệm sức người mà còn giúp tăng tốc độ vận chuyển.

Plây Me 1965 – 150 kg dây điện thoại mỗi chuyến

Trong Chiến dịch Plây Me năm 1965, đơn vị phải vận chuyển dây điện thoại.

Đây là loại hàng khó mang, cồng kềnh, khiến năng suất thấp.

A Nun nghiên cứu cách kẹp và buộc hàng chắc, gọn.

Kết quả, mỗi chuyến ông có thể mang:

150 KG DÂY ĐIỆN THOẠI

Cách sắp xếp mới còn giúp người vận tải có thể đi được cả ban đêm.

Nhờ vậy, đơn vị kịp thời đưa phương tiện thông tin tới phục vụ tiền tuyến.

Không có đường thuận lợi thì tìm đường mới

A Nun hiểu rằng tăng khối lượng mang vác chưa đủ.

Muốn vận tải hiệu quả còn phải rút ngắn tuyến đường.

Ông vận động đồng đội tranh thủ sửa đường, đồng thời tìm những tuyến mới để tránh các đoạn dốc khó đi.

Nhờ vậy, nhiều chuyến hàng đến nơi sớm hơn từ:

30 PHÚT ĐẾN 2 GIỜ

Đến mùa mưa, nước lũ dâng cao, đường vận chuyển bị chia cắt.

A Nun đề xuất:

Làm cầu treo.

Ông lại là một trong những người xung phong bơi qua sông để cùng đồng đội dựng cầu.

Con đường được nối lại.

Hàng hóa tiếp tục đi về phía trước.

Chiếc máy nổ 173 kg

Một trong những câu chuyện nổi bật nhất về A Nun liên quan đến một chiếc máy nổ nặng:

173 KG

Nếu vận chuyển theo cách thông thường, phải sử dụng bốn đòn khiêng và huy động nhiều người.

Điều đó đồng nghĩa một phần hàng hóa khác có nguy cơ phải nằm lại kho.

Nhưng chiến trường đang cần hàng.

A Nun suy nghĩ:

“Chiến trường đang rất cần hàng. Nghị quyết chi bộ là không để hàng phải nằm lại. Mình là đảng viên phải làm cho đúng.”

Ông nghiên cứu cách mang.

Sau đó đưa ra quyết định:

A NUN XUNG PHONG MANG CHIẾC MÁY NỔ MỘT MÌNH.

Nhờ vậy, những đồng đội còn lại có thể tiếp tục vận chuyển các kiện hàng khác.

Một ngày từ 4 giờ sáng đến 8 giờ tối

Chuyến vận chuyển chiếc máy nổ bắt đầu từ 4 giờ sáng.

Trên đường đi, đơn vị phải vượt qua khu rừng vừa bị máy bay B.52 ném bom.

Cầu bị phá.

A Nun lại cùng đồng đội dừng lại sửa cầu.

Sau hàng giờ vận chuyển trên địa hình gian khổ, đến:

5 giờ chiều, ông đưa được máy tới nơi giao hàng.

Nhưng nhiệm vụ của ngày hôm ấy vẫn chưa kết thúc.

A Nun quay trở lại kho.

Đến khoảng:

8 giờ tối, ông mới về tới nơi.

Một ngày làm nhiệm vụ kéo dài khoảng 16 giờ.

Khi tuyến đường bị đánh phá dữ dội

Cuối năm 1967, lượng hàng cần vận chuyển tăng cao.

Trong khi đó, các tuyến đường liên tục bị đánh phá.

Một số chiến sĩ bắt đầu e ngại những tuyến nguy hiểm hoặc muốn giảm khối lượng mang để có thể di chuyển nhanh hơn.

A Nun không phê bình đồng đội bằng lời nói suông.

Ông làm gương trước.

Bản thân tiếp tục nhận nhiều hàng và đi qua những tuyến khó khăn.

Đồng thời, ông nghiên cứu cách buộc hàng sao cho:

Nhiều hơn – gọn hơn – chắc hơn – bảo quản tốt hơn.

Tinh thần ấy dần lan sang cả đơn vị.

Một phong trào thi đua vận chuyển hàng trên những tuyến ác liệt được hình thành.

Kết quả rất rõ ràng.

Trong 7 tháng đầu năm 1968, trung đội của A Nun:

DẪN ĐẦU NĂNG SUẤT TOÀN NGÀNH VẬN TẢI BỘ

Người trung đội trưởng chăm lo từng sợi dây, củ mài, mớ rau rừng

A Nun không chỉ nổi bật bởi sức khỏe và năng suất vận chuyển.

Đơn vị của ông có cả nam và nữ, gồm chiến sĩ thuộc nhiều dân tộc, đến từ nhiều địa phương khác nhau.

Nhưng trung đội luôn giữ được sự đoàn kết.

Người trung đội trưởng quan tâm đến đồng đội từ những việc rất nhỏ.

Một chiếc dây buộc hàng.

Một củ mài lúc đói.

Một mớ rau rừng.

Hay những bộ quần áo bị rách cần được khâu vá.

A Nun đều chú ý.

Ông cũng làm tốt công tác dân vận, vì vậy ở những nơi đơn vị đóng quân, đồng bào địa phương đều yêu mến và giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ.

Bốn năm liền là Chiến sĩ thi đua

Những thành tích của A Nun được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng.

Ông 4 năm liên tục là Chiến sĩ thi đua, từ:

1965 – 1966 – 1967 – 1968

Đồng thời được tặng:

1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất.

2 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì.

1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.

Khi được tuyên dương Anh hùng, A Nun là Trung đội trưởng vận tải gùi thồ, Đại đội 2, Tiểu đoàn 224, Trung đoàn 2, Cục Hậu cần Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày 20 tháng 12 năm 1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng A Nun danh hiệu:

ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG

A Nun không nổi tiếng bởi một trận đánh duy nhất.

Chiến công của ông được tạo nên qua hàng nghìn bước chân trên đường rừng, qua những chuyến hàng được đưa tới chiến trường và những sáng kiến tưởng nhỏ bé nhưng trực tiếp làm tăng năng lực của cả tuyến vận tải.

Từ cậu bé Pa Cô 11 tuổi làm liên lạc, người thanh niên chỉ mang được 20 kg những ngày đầu đã trở thành người trung đội trưởng thường xuyên mang 90 kg, từng vận chuyển chiếc máy nổ 173 kg và có chuyến mang tới 190 kg.

Đó là một hình ảnh rất đặc biệt của hậu cần chiến trường:

Ở nơi phía trước cần hàng, A Nun tìm cách đưa hàng tới.

Đường khó – sửa đường.

Sông lớn – làm cầu.

Hàng nặng – nghĩ cách mang.

Thiếu người – tìm cách tăng năng suất.

Và chính trên những con đường ấy, đôi vai của người chiến sĩ Pa Cô đã trở thành một phần của tuyến vận tải ra chiến trường.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn