Anh hùng Lực lượng vũ trang

A TRANH (A NIẾC) – NGƯỜI CÁN BỘ CHÍNH TRỊ KIÊN TRUNG GẮN BÓ VỚI ĐẤT VÀ DÂN TÂY NGUYÊN

A TRANH (A NIẾC) – NGƯỜI CÁN BỘ CHÍNH TRỊ KIÊN TRUNG GẮN BÓ VỚI ĐẤT VÀ DÂN TÂY NGUYÊN

Lai Châu02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

A Tranh (tức A Niếc) sinh năm 1924, dân tộc Xê Đăng, quê ở xã Đắc Uy, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; tham gia cách mạng từ tháng 3 năm 1945 và nhập ngũ tháng 3 năm 1964. Trong hai cuộc kháng chiến, đồng chí từng giữ nhiều cương vị quan trọng như Chủ tịch kiêm Xã đội trưởng xã Đắc Uy trong kháng chiến chống Pháp và Chính trị viên phó Huyện đội 16 (Kon Rẫy) trong kháng chiến chống Mỹ. Là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, A Tranh luôn thể hiện phẩm chất của một cán bộ cơ sở kiên trung, gắn bó mật thiết với nhân dân các dân tộc Tây Nguyên.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, A Tranh sớm giác ngộ cách mạng. Khi vừa tròn 16 tuổi, đồng chí đã tham gia lực lượng du kích xã, trực tiếp cùng nhân dân giữ làng, bảo vệ buôn làng trước sự đàn áp của địch. Với vai trò xã đội trưởng rồi Chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng giai đoạn 1949 – 1954, đồng chí luôn bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở cách mạng, củng cố đội du kích và phát triển phong trào kháng chiến ở địa phương. Dù địch kiểm soát gắt gao, lùng sục và bắt bớ, A Tranh vẫn kiên cường hoạt động, lãnh đạo quần chúng phá “ấp chiến lược”, giải phóng hơn 600 đồng bào trở về vùng căn cứ, góp phần giữ vững phong trào cách mạng tại cơ sở.

Tháng 3 năm 1964, khi được giao nhiệm vụ Chính trị viên phó Huyện đội 16, trong điều kiện đơn vị mới thành lập, lực lượng còn mỏng, địch đánh phá ác liệt, đồng chí đã cùng Ban chỉ huy nhanh chóng củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng và chỉ huy chiến đấu hiệu quả. Trong quá trình hoạt động, A Tranh trực tiếp tham gia 104 trận lớn nhỏ, diệt 70 tên địch, trong đó có 20 tên Mỹ, bắn cháy 2 máy bay trinh sát L.19.

Đặc biệt, trong chiến dịch Bắc Kon Tum năm 1966, trước cuộc càn quét lớn của hơn 8.000 quân địch vào căn cứ H16 nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng và uy hiếp đồng bào các dân tộc, A Tranh đã chỉ huy đơn vị chiến đấu kiên cường, có ngày đánh tới 15 trận, giữ vững căn cứ và bảo vệ an toàn nhân dân. Trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy lực lượng chặn đánh giao thông trên đường 14, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm rối loạn hệ thống tiếp tế của địch.

Sau năm 1970, A Tranh được ra miền Bắc học tập, đến năm 1975 trở về quê hương tiếp tục công tác xây dựng địa phương. Năm 1983, đồng chí nghỉ hưu nhưng vẫn giữ vững phẩm chất người đảng viên, tích cực tham gia công tác tại cơ sở, góp phần xây dựng quê hương vững mạnh.

Với những cống hiến to lớn, A Tranh được tặng thưởng 12 Huân chương các loại, trong đó có Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, hai lần là Chiến sĩ thi đua của Miền và Mặt trận Tây Nguyên. Ngày 30 tháng 8 năm 1995, đồng chí được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận xứng đáng những đóng góp bền bỉ, kiên trung của một cán bộ cách mạng tiêu biểu nơi núi rừng Tây Nguyên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn