A Vương -NGƯỜI LÍNH ĐĂK MAR TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG NGÃI
Tuổi trẻ từ núi rừng Đăk Mar
Tôi tên là A Vương, sinh ra trong một gia đình người Xơ Đăng ở xã Đăk Mar
Năm 1965, đất nước chìm trong khói lửa. Tin chiến tranh lan đến Quảng Ngãi, Quảng Nam và cả Tây Nguyên khiến chúng tôi không khỏi lo lắng. Tôi và bạn bè – A Nghíu, Y Tâm, Y Rin – nắm tay nhau nói:
“Nếu mình không đi, ai giữ đất? Ai giữ làng?”
Ngày nhập ngũ, mẹ tôi đưa cho tôi chiếc vòng dệt bằng sợi cây krang, nói trong tiếng nghẹn:
“Con mang bên mình để nhớ đất Đăk Mar. Dù đi đâu… cũng nhớ đường về.”
Tôi siết tay mẹ mà không nói được gì.
Đường vào Quảng Ngãi
Từ Kon Tum, chúng tôi theo đường Trường Sơn hành quân gần một tháng vào chiến trường Quảng Ngãi. Đêm ngủ võng giữa rừng Trà Bồng, Ba Tơ, chúng tôi nghe tiếng côn trùng hòa vào tiếng đại bác từ biển Sa Kỳ vọng lại.
Một tối, chúng tôi dừng ở một bản nhỏ của người Hrê. Bà con mang cơm lam và cá suối ra cho, nói:
“Bộ đội giữ nước, dân làng góp chút sức.”
Tình quân dân ấy theo tôi suốt những năm tháng chiến đấu sau này.
Những ngày chiến đấu gian khổ
Chiến sự ở Sơn Tịnh – Sơn Hà
Lực lượng Mỹ – Sài Gòn liên tục mở các cuộc càn quét “tìm – diệt”. Chúng lùng giết, đốt nhà, gom dân vào ấp chiến lược. Rừng núi Quảng Ngãi ngày nào cũng nghe tiếng máy bay trực thăng phành phạch trên đầu.
Đêm nằm hầm biệt kích, tôi lại nhớ tiếng chiêng ở Đăk Mar, nhớ những đêm hội làng náo nức.
Anh Lợi – người bạn thân nhất của tôi trong đơn vị, quê Nghệ An – thường trêu:
“Hết chiến tranh tao phải lên Đăk Mar thăm bản làng mày xem có đẹp bằng lời mày kể không.”
Tôi chỉ cười, nhưng trong lòng thầm mong ngày đó đến.
Trận đánh bên suối Rêu – bước ngoặc sinh tử
Tháng 8 năm 1967, đơn vị tôi nhận lệnh chặn đường một tiểu đoàn lính Mỹ – Sài Gòn đang tiến về phía bản Kà Lâu để bắt cán bộ và dân.
Đại đội trưởng chỉ tay vào bản đồ:
“Chúng sẽ đi qua khe suối Rêu. Chúng ta chọn đó làm điểm phục kích.
Không để chúng vào bản. Bà con hoàn toàn trông chờ vào các đồng chí.”
Buổi chiều trước trận đánh
Chúng tôi đào hầm, ngụy trang lá rừng, bố trí tổ bắn tỉa, chuẩn bị lựu đạn và bộc phá. Cả cánh rừng im lìm. Mỗi người đều cảm thấy rõ ràng ranh giới giữa sống và chết chỉ cách nhau một hơi thở.
Khi hoàng hôn buông xuống, anh Lợi nhìn tôi:
“Mai tao mà… có chuyện gì, mày nhớ gửi mẹ tao lá thư trong ba lô.”
Tôi gắt:
“Nói điềm gở! Trận nào mình chả qua.”
Anh Lợi cười, mắt vẫn nhìn về phía suối:
“Không phải sợ chết. Chỉ thương mẹ.”
Câu nói ấy còn ám theo tôi nhiều năm.
Đêm chiến đấu giữ con suối
Đến nửa đêm, tiếng giày đinh, tiếng va lách cách của súng M16 vang lên. Pháo sáng rực trời. Địch đã vào đúng trận địa.
Tiếng đại đội trưởng lệnh nhỏ:
“Nổ súng!”
Hàng chục khẩu súng đồng loạt khai hỏa. Địch bất ngờ, ngã xuống hàng loạt. Nhưng chúng nhanh chóng phản kích, gọi pháo và trực thăng chi viện. Đất đá nổ tung, cây rừng đổ rầm rầm.
Ở mỏm đá gần suối, tôi và anh Lợi liên tục thay nhau bắn yểm trợ. Khi một toán lính Mỹ lao lên, anh Lợi hét:
“A Vương! Ném lựu đạn đi!”
Tôi ném, khói lửa bốc lên, mùi thuốc súng nghẹn trong họng.
Nhưng khi quay lại, tôi thấy anh Lợi ôm ngực gục xuống. Máu đỏ thẫm trên áo anh. Tôi hoảng:
“Anh Lợi! Anh ơi!”
Anh nắm lấy tay tôi, hơi thở đứt quãng:
“Đừng… để chúng qua suối…
Nhớ… gửi thư cho mẹ…
Và nhớ lời hứa… dẫn tao lên Đăk Mar…”
Rồi anh buông tay tôi ra. Tôi lặng người, nhưng lời anh như vết dao khắc vào tim. Tôi nhặt khẩu súng của anh, lao lên chốt thay vị trí anh vừa nằm.
Tiếng súng, tiếng hét, tiếng bom rung trời. Đến gần sáng, địch không tiến nổi, buộc phải rút lui.
Khe suối Rêu được giữ vững. Bản Kà Lâu bình yên.
Nhưng anh Lợi – người bạn vào sinh ra tử của tôi – nằm lại Quảng Ngãi, giữa cánh rừng anh chưa kịp hiểu hết tên.
Ngày trở về Đăk Mar
Năm 1975, chiến tranh kết thúc. Tôi trở lại Đăk Mar sau mười năm xa quê. Núi Ngọc Linh vẫn phủ mây trắng, suối Đăk Bla vẫn róc rách như ngày nào. Bà con trong làng dựng lại nhà rông, trồng lại lúa, mở những con đường mới dẫn đến trường học.
Tôi đem chiếc vòng mẹ tặng đặt cạnh di ảnh cha. Mẹ già đi nhiều, nhưng khi thấy tôi, bà chỉ nói:
“Con đã về rồi… đất Đăk Mar đợi con lâu lắm rồi.”
Có những đêm, tôi ngồi bên bếp lửa nhà rông, nghe tiếng cồng chiêng vang vọng mà lòng quặn đau khi nhớ đến anh Lợi và đồng đội đã nằm lại rừng Quảng Ngãi.
Tôi tự nhủ:
“Hòa bình này, bình yên này…
được đổi bằng máu, bằng tuổi trẻ, bằng ước mơ dở dang của bao người.”



