AHLLVTND PHẠM VĂN TRỌNG
ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN PHẠM VĂN TRỌNG
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Văn Trọng (tên thật là Phạm Văn Trán) sinh năm 1946 trong một gia đình nông dân, quê tại xã An Tây, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Đồng chí nhập ngũ tháng 4 năm 1962, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, đồng chí mang quân hàm Thượng úy, là Bác sĩ Quân y viện 2 thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng chí sinh ra tại quê ngoại ở ấp Phú Bình, xã An Phú, huyện Củ Chi. Lớn lên trên vùng đất giàu truyền thống cách mạng nhưng chịu nhiều đau thương do chiến tranh, đồng chí sớm tham gia hoạt động cách mạng, làm công tác liên lạc, nắm tình hình phục vụ cán bộ địa phương và tích cực tham gia phong trào học sinh, sinh viên.
Năm 1962, đồng chí nhập ngũ và được cử đi học lớp đào tạo y tá. Sau khi hoàn thành khóa học, đồng chí công tác tại Quân y và Đội phẫu thuật tỉnh Bình Dương. Đến năm 1968, đồng chí được điều về Trung đoàn 268, Phân khu Sài Gòn – Gia Định, trực tiếp phục vụ chiến đấu trên chiến trường ven đô Tây Bắc Củ Chi và Trảng Bàng.
Năm 1969, sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo y sĩ, đồng chí được giao giữ chức Đại đội trưởng Quân y C23, Trung đoàn 268, đồng thời là Bí thư Chi bộ. Hoạt động trong điều kiện chiến trường vô cùng ác liệt, mọi công tác phẫu thuật, chăm sóc và nuôi dưỡng thương binh đều phải thực hiện dưới hệ thống địa đạo. Nhận thấy trình độ chuyên môn của đơn vị còn hạn chế, đồng chí đã tranh thủ thời gian không có địch càn quét để trực tiếp hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố tổ chức, ổn định tư tưởng cán bộ, chiến sĩ. Nhờ sự tận tâm và trách nhiệm của đồng chí, trình độ chuyên môn của đội phẫu thuật ngày càng được nâng cao, cứu chữa thành công nhiều thương binh nặng. Đại đội Quân y C23 trở thành địa chỉ tin cậy của cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn, đồng thời là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với các đơn vị và địa phương trong vùng.
Trong quá trình công tác, đồng chí nhiều lần đối mặt với những tình huống đặc biệt nguy hiểm. Có lần, khi đang thực hiện ca mổ cho một thương binh bị thủng nhiều đoạn ruột non, quân Mỹ bất ngờ mở cuộc tập kích, trực thăng bắn phá dữ dội, có quả đạn nổ chỉ cách bàn mổ khoảng 100 mét. Trước tình thế cấp bách, đồng chí bình tĩnh bố trí một tổ y tá chiến đấu bảo vệ khu vực, số còn lại tiếp tục hỗ trợ ca phẫu thuật. Sau khi xử lý tạm thời các vết thương, đồng chí cùng đồng đội đưa thương binh thoát khỏi vòng vây, chuyển sang vị trí an toàn để hoàn thành ca mổ, cứu sống người bị thương.
Trong một lần khác, vừa hoàn thành ca phẫu thuật bụng thì xe tăng Mỹ tiến vào khu vực. Nếu đưa thương binh xuống hầm bí mật sẽ nguy hiểm đến tính mạng do thiếu dưỡng khí, còn để lại trên mặt đất thì cả đội phẫu thuật có thể bị phát hiện. Sau khi trao đổi với anh em, đồng chí quyết định giữ thương binh tại chỗ, đồng thời tổ chức gài mìn trên hướng tiến quân của địch. Xe tăng địch trúng mìn, buộc phải đổi hướng, nhờ đó thương binh và đơn vị đều được bảo toàn.
Dù bản thân từng bị thương, vết mổ ở bụng chưa lành hẳn, đồng chí vẫn kiên cường đứng suốt nhiều giờ để phẫu thuật cho một thương binh bị gãy xương đùi, mất máu nghiêm trọng. Ca mổ thành công, người thương binh được cứu sống.
Suốt ba năm bám trụ chiến trường (1968–1971), dưới sự lãnh đạo của đồng chí, Đại đội Quân y C23 trở thành một "chốt quân y" vững chắc tại Củ Chi – Trảng Bàng. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị không chỉ làm tốt nhiệm vụ cứu chữa, chăm sóc thương binh mà còn trực tiếp tham gia chiến đấu, thu gom bom đạn lép để chế tạo hàng trăm quả mìn phục vụ tác chiến, bảo vệ căn cứ và thương binh. Đơn vị đã góp phần bắn cháy, phá hỏng nhiều xe tăng địch, tiêu diệt và làm bị thương nhiều lính Mỹ. Riêng đồng chí trực tiếp tham gia chiến đấu, tiêu diệt 2 xe tăng cùng nhiều tên địch, đồng thời xây dựng Đại đội Quân y C23 ngày càng vững mạnh. Ngoài nhiệm vụ của Trung đoàn 268, đơn vị còn là nơi cấp cứu, điều trị cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân trong khu vực.
Năm 1972, đồng chí được cử đi học lớp đào tạo bác sĩ. Sau khi tốt nghiệp năm 1974, đồng chí được điều động giữ chức Đại đội trưởng Quân y Sư đoàn 2 Đặc công thuộc Bộ Tư lệnh Sài Gòn – Gia Định.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí được giao làm Trưởng Cụm Quân y cánh Bắc Sài Gòn. Đồng chí đã chỉ huy lực lượng triển khai cơ sở quân y tại Hóc Môn, tổ chức cấp cứu, phẫu thuật và điều trị cho nhiều thương binh, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975).
Từ năm 1976 đến năm 1978, đồng chí giữ chức Bác sĩ, Chủ nhiệm Khoa Ngoại Bệnh viện 7A. Trong suốt quá trình công tác, đồng chí luôn tận tụy cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Nhân dân cũng như Quân đội. Đồng chí được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, hạng Nhì, hạng Nhất, Huân chương Lao động hạng Ba và Huân chương Bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng đồng chí danh hiệu cao quý "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" theo Lệnh số 104/LCT do Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký.
Không chỉ là người chiến sĩ dũng cảm, đồng chí Phạm Văn Trọng còn là một thầy thuốc mẫu mực với y đức trong sáng, luôn hết lòng vì người bệnh. Với nhiều đóng góp trong công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân và Quân đội, cùng nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn, đồng chí được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Thầy thuốc Nhân dân".
Cuộc đời và sự nghiệp của Anh hùng Phạm Văn Trọng là tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường và trách nhiệm của người thầy thuốc – chiến sĩ. Những cống hiến của đồng chí đã góp phần làm nên truyền thống vẻ vang của vùng đất Củ Chi – Đất thép Thành đồng, để các thế hệ hôm nay và mai sau luôn tự hào, trân trọng và tiếp bước.



