Khác

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

Dân cư Hóc Môn mang những nét bản chất của người dân Nam Bộ. Họ là những người nông dân Việt Nam từ các miền Trung, Bắc, vì không chịu nổi áp bức bóc lột của bọn phong kiến Trịnh, Nguyễn, vì nghèo đói cơ cực quá không sống nổi nên đã rời bỏ quê hương di chuyển vào phương Nam tìm vùng đất mới để tạo dựng cuộc sống tự do, no ấm.

07/03/2026Đang cập nhật (Đang cập nhật)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người dân Hóc Môn xưa đã phải lao động gian khổ chống các thú dữ, chống với thiên nhiên khắc nghiệt, ra sức khai phá các rừng rậm, bãi hoang, chịu khó trồng tỉa, chăn nuôi, tạo những vùng đất hoang vu này trở thành những vùng đất canh tác màu mỡ.


Người dân sống chủ yếu là nghề nông, trồng lúa khoai và hoa màu rồi dần dần phát triển trồng cây ăn quả, đặc biệt là trồng trầu cau thành những vườn xanh tốt.

Bà Điểm nằm trong xã Tân Thới Nhứt quận Gò Vấp xưa. Bà Điểm lại ở sát cánh với huyện Hóc Môn, thuộc phần đất của 18 thôn Vườn Trầu, về địa lý hành chính liên quan mật thiết với Hóc Môn, nằm sát nách Sài Gòn, là cửa ngõ ra vào thành phố về phía tây bắc. Bà Điểm, Hóc Môn thuộc tỉnh Gia Định. Đầu thế kỷ XIX, đời vua Minh Mạng triều Nguyễn, Hóc Môn - Bà Điểm được gọi chung là 18 thôn Vườn Trầu. Khi đó 18 thôn Vườn Trầu phần lớn nằm trên đất Hóc Môn - Gò Vấp - Đức Hòa, dân cư trù phú, có nhiều vườn trầu, và nơi đây cũng trở thành vùng chuyên canh trồng trầu, cau.


Lịch sử 18 thôn Vườn Trầu gắn liền với sự phát triển vùng Sài Gòn, (tức Bến Nghé) của người Việt. Khi hình thành 18 thôn Vườn Trầu thì xung quanh vùng này còn là rừng rậm, có nhiều cọp beo nên đã nổi tiếng là “cọp dữ như cọp Vườn Trầu” và rất nhiều thú dữ khác.


Khi nói về lịch sử đấu tranh ngày xưa, Bà Điểm (có thời là quận Bà Điểm) thường được gọi chung với quận Hóc Môn trong tên gọi Mười tám thôn Vườn Trầu.

Quận Đức Hòa là địa phương thứ ba trong các địa phương hình thành liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Làng Mỹ Hạnh quận Đức Hòa là nơi diễn ra lễ ra mắt của Giải phóng quân liên quận.

Quận Đức Hòa trước năm 1945 là một trong bốn quận của tỉnh Chợ Lớn (gồm Cần Giuộc, Thủ Thừa, Đức Hòa, Trung Quận).

Tháng 10 năm 1945, khi Nam Bộ chia thành ba khu, thì tỉnh Chợ Lớn thuộc Khu 7 và Đức Hòa là một trong bốn quận của tỉnh Chợ Lớn (Đức Hòa, Trung Quận, Cần Giuộc và Cần Đước).

Ngày nay huyện Đức Hòa là một trong 14 huyện, thị của tỉnh Long An. Trung tâm Đức Hòa cách Tân An khoảng 40 km về hướng bắc, cách Sài Gòn 30 km về hướng tây.

Phía bắc Đức Hòa giáp huyện Củ Chi, Trảng Bàng (Tây Ninh), phía đông giáp huyện Hóc Môn, Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh), phía nam giáp huyện Bến Lức, phía tây là sông Vàm Cỏ Đông và giáp huyện Đức Huệ của tỉnh Long An.


Địa hình Đức Hòa chia làm 3 khu vực: phía tây, giáp sông Vàm Cỏ dáng đất thấp, nhiều khu vực lầy lội và nhiều kênh rạch nhỏ. Ở giữa là vùng đất “giồng” tương đối cao ráo có nhiều làng mạc với các lũy tre xanh bao bọc, phía đông bắc là vùng đất thấp giáp thành phố Hồ Chí Minh.


Nhìn chung, địa hình địa thế Đức Hòa mang nhiều tính chất của đồng bằng miền Đông Nam Bộ, có pha trộn một số nét của đồng bằng Tây Nam Bộ.

Giao thông thủy ở Đức Hòa khá thuận lợi với sông Vàm Cỏ khá lớn chạy dọc suốt chiều dài của huyện và nhiều kênh rạch nhỏ hơn từ đó chạy sâu vào các cánh đồng, vừa dẫn nước tưới tiêu vừa là đường vận chuyển khá tốt bằng xuồng ghe.


Giao thông đường bộ ở Đức Hòa khá phát triển với trục lộ số 10 chạy giữa trung tâm và suốt chiều dài huyện. Đức Hòa còn có lộ số 6, lộ số 7 số 8 số 9 cắt ngang lộ số 10 và cách nhau tương đối đều tạo thành một mạng lưới giao thông khá cân đối trên tất cả các vùng của huyện. Lộ số 9 nối với lộ số 31 thông ra quốc lộ số 1A.


Đức Hòa có mối giao lưu kinh tế - xã hội tương đối rộng rãi trong vùng. Nhiều người dân Đức Hòa có mối thân tộc với dân ở Hóc Môn, Tân Bình, Bình Chánh, Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy, xét về mặt địa lý hành chính, Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa đều là những vùng đất của miền Đông Nam Bộ. Ba địa phương ở gần sát bên nhau, sát nách trung tâm Sài Gòn, cách Sài Gòn 20 đến 30 km. Hóc Môn - Bà Điểm nằm ở hướng bắc, Đức Hòa cách Sài Gòn 30 km về hướng tây.


Từ Hóc Môn - Bà Điểm đến Đức Hòa có thể đi bằng đường bộ, (lộ 10, lộ 8, lộ 9, lộ 7) và có đường liên tỉnh lộ thông ra quốc lộ số 1 bằng đường thủy từ Hóc Môn - Bà Điểm nhờ sông Sài Gòn chảy qua cầu Bông đến cầu An Hạ. Từ Đức Hòa, theo sông Vàm Cỏ có thể vận chuyển bằng xuồng ghe đến các huyện bạn một cách dễ dàng, nhanh chóng.


Về đặc điểm địa lý quân sự, do đặc điểm địa lý hành chính sát nách Sài Gòn, lại có những điều kiện thuận lợi về mặt hành chính, đi lại thuận lợi dễ dàng bằng các loại phương tiện thủy, bộ... nên Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa là những địa bàn quan trọng cho hoạt động cách mạng sau này.


Cư dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa mang đặc điểm truyền thống của nhân dân Nam Bộ. Họ đều là những người dân từ Bắc, Trung di cư vào Nam để tránh cuộc phân tranh đẫm máu giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn (thế kỷ thứ XVI). Những người dân tha phương đã đoàn kết với nhau vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, đấu tranh với thú dữ, và chiến đấu chống bệnh tật, có truyền thống yêu thương nhau “lá lành đùm lá rách” để sống và tồn tại. Trong cuộc sống họ đã từng đoàn kết bên nhau chống lại kẻ thù.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312« Trả lời #3 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2021, 07:27:05 pm »
Nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa vốn có truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng chống kẻ thù xâm lược.

Từ năm 1859, quân xâm lược Pháp nổ súng lần đầu tiên tiến công thành Gia Định. Nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa gia nhập nghĩa quân do những người yêu nước chiêu mộ, tiêu biểu nhất là nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo, đã đánh địch ngay tại trung tâm Gia Định. Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa là những căn cứ của quân nổi dậy; giúp nghĩa quân Trương Định đánh tan đồn Thuận Kiều.


Sau đó, nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa tiếp tục ủng hộ các cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Anh Thủ (1871) và Phan Công Hớn (1885) lãnh đạo.

Từ đầu thế kỷ XX, những tư tưởng cách mạng cấp tiến đã bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam. Do vị trí sát Sài Gòn và có địa thế lợi hại nên Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa trở thành địa bàn hoạt động khá mạnh của các nhóm và các tổ chức có tư tưởng tiến bộ. Tổ chức đầu tiên có tinh thần yêu nước hoạt động ở Gia Định - Chợ Lớn là hội kín Phan Xích Long lây tên là “Thiên Địa Hội”. Tổ chức này đã tập hợp khá rộng rãi những người nông dân yêu nước chống thực dân Pháp.


Đêm ngày 23 tháng 3 năm 1913, nghĩa quân vùng ngoại thành Hóc Môn - Bà Điểm cùng các tỉnh lân cận đột nhập vào nội thành tiến công một số cơ sở của Pháp như Sở thanh tra, Khám lớn Sài Gòn...

Đêm ngày 14 tháng 2 năm 1916 nghĩa quân dự kiến tiến công dinh thống đốc Nam Kỳ, Khám lớn Sài Gòn giải thoát cho Phan Xích Long nhưng kế hoạch bại lộ, bị đàn áp dữ dội và tan rã.

Năm 1925, nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh về nước để tuyên truyền tư tưởng cách mạng, ông đã chọn ngay Đức Hòa làm địa bàn hoạt động của mình. Nguyễn An Ninh đã gặp những người yêu nước ở Thiên Địa Hội. Những buổi lễ “trích máu ăn thề”, “kết nghĩa huynh đệ” của ông với những người yêu nước đã diễn ra ở Đức Hòa.


Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa cũng là nơi diễn ra mạnh mẽ phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh, đòi thả cụ Phan Bội Châu (1926)... là địa bàn hoạt động quan trọng của hội kín Nguyền An Ninh (1926 - 1929).


Có thể nói các phong trào trước khi có Đảng lãnh đạo đã diễn ra mạnh mẽ ở tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, trong đó nổi bật ở các huyện Đức Hòa (Chợ Lớn) và Hóc Môn - Bà Điểm (Gia Định). Các phong trào yêu nước đã khơi sâu lòng căm thù sâu sắc đối với thực dân Pháp và tay sai, khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân, tạo nên những tiền đề hết sức thuận lợi cho việc tập hợp, tổ chức quần chúng nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc.


Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ ở Gia Định, Chợ Lớn và các địa bàn miền Đông Nam Bộ. Đức Hòa là một trong những nơi ra đời các chi bộ Đảng đầu tiên ở Nam Bộ và trở thành căn cứ và nơi hoạt động của Xứ ủy. Ở Hóc Môn - Bà Điểm nổi lên cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nông dân (tháng 6 năm 1930)... đã làm cho kẻ thù hoảng sợ. Ngày 4 tháng 6 năm 1930, 2000 công nhân Đức Hòa biểu tình đòi thực dân Pháp giảm sưu thuế, không được áp bức công nhân (do đồng chí Châu Văn Liêm, Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn lãnh đạo).


Ngày 1 tháng 8 năm 1930, Đảng bộ Gia Định chủ trương một cuộc đấu tranh bằng đồng khởi ở hai quận Hóc Môn - Bà Điểm. Từ đây, nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm càng thêm khăng khít bên nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.


Sang đầu năm 1931, phong trào đấu tranh của quần chúng ở vùng nông thôn Hóc Môn - Bà Điểm - Gò Vấp vẫn diễn ra sôi nổi.

Từ những năm 1930-1931, phong trào đấu tranh của nhân dân Gia Định - Chợ Lớn lên rất cao, nhất là vùng Hóc Môn - Bà Điểm (Gò Vấp), Đức Hòa, các tổ chức Đảng phát triển nhiều đảng viên, cơ sở quần chúng ở địa phương như Nông hội đỏ càng tập trung thêm nhiều nông dân tích cực, quần chúng rất tin tưởng vào sức mạnh của Đảng, qua đó cơ sở quần chúng của Đảng được phát triển lan ra khắp vùng.


Cao trào 1932-1935, tình hình địa phương Hóc Môn - Bà Điểm rất căng thẳng, đế quốc Pháp đàn áp khủng bố cộng sản gay gắt càng làm cho khí thế đấu tranh của quần chúng ngày một tăng lên. Chúng tăng cường bộ máy cai trị, đưa tên cò Bataille khét tiếng, trưởng bót và tên Rigaut, phó bót cùng một tiểu đội lính Pháp về đóng tại Bà Điểm, hòng ngăn chặn sự đấu tranh của quần chúng mà chúng cho Bà Điểm là trung tâm của cộng sản.


Làn sóng khủng bố của thực dân Pháp đã tràn qua vùng Hóc Môn - Gò Vấp, làm cho một số tổ chức cơ sở bị tan rã, một số cán bộ, đảng viên bị bắt nhưng chỉ trong một thời gian ngắn thì Đảng khôi phục lại ngay, tổ chức Đảng ở cơ sở các làng vẫn được giữ vững và phát triển.


Trong cao trào 1936-1939, Bà Điểm, 18 thôn Vườn Trầu đã được Đảng chọn làm căn cứ địa cách mạng của Trung ương để lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước.

Trong thời gian từ năm 1936 đến năm 1939, Trung ương Đảng đóng trụ sở tại Bà Điểm và mở nhiều cuộc hội nghị quan trọng nhưng không một đồng chí nào bị lộ, bị địch bắt tại đây; các đảng viên cơ sở và những quần chúng tốt đã đảm bảo bí mật và an toàn tuyệt đối cho các đồng chí Trung ương.


Cũng trong thời gian này ba địa phương: Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa hình thành một “vành đai đỏ” ở phía tây bắc Sài Gòn. Vành đai đấu tranh cách mạng ấy đã làm cho quân Pháp tốn không ít công sức để đối phó.


Những năm 1936-1939 là thời kỳ đấu tranh rất sôi nổi ở Gia Định (Hóc Môn - Bà Điểm) và Chợ Lớn (Đức Hòa). Đảng bộ đã vận dụng khá sáng tạo và linh hoạt sự chuyến hướng chỉ đạo chiến lược mục tiêu đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, chống phát xít nhưng trong tình hình cụ thể, Đảng bộ đã nhạy bén khai thác được những vấn đề nổi cộm nhất: ở Đức Hòa là quyền lợi của người trồng thuốc lá và trồng mía: Đòi quyền tự do trồng cây thuốc lá không hạn chế số lượng, đòi bỏ thuế đoan và thuế đi lại đối với người buôn bán thuốc lá; đòi bỏ thuế đoan và môn bài đối với loại thuốc đã xắt thành sợi. Cuộc đấu tranh đã thu được thắng lợi. Sau đó là cuộc đấu tranh của những người trồng mía đòi tăng giá mía. Cuộc đấu tranh của bà con nông dân được sự đồng tình ủng hộ của công nhân hãng đường và những người khuân vác, chuyên chở mía. Có được sự phối hợp hành động nhịp nhàng giữa bên ngoài và bên trong là do có sự chỉ đạo của huyện ủy về sự kết hợp giữa chi bộ nhà máy và “Nông hội đỏ”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn