|
Năm 1938, được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Gia Định, quần chúng ba quận Hóc Môn, Gò Vấp, Đức Hòa phối hợp biểu tình kéo vào thị trấn Hóc Món đấu tranh đòi giảm thuế, đòi thi hành các quyền tự do dân chủ, đòi địa chủ giảm tô và chống bắt lính.
Phong trào Đông Dương Đại hội (1936-1939) có ý nghĩa to lớn, đã tập hợp đông đảo quần chúng tại địa phương vào trận tuyến mới của Đảng sau thời gian phong trào tạm lắng (1932-1935). Chính thắng lợi của phong trào này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đảng hoạt động được trong điều kiện lúc bấy giờ mà vẫn bảo đảm được an toàn cơ sở.
Qua các cuộc biểu dương lực lượng và đấu tranh của quần chúng, uy tín của Đảng ta thêm sâu rộng, trình độ giác ngộ chính trị và trình độ của quần chúng được nâng cao. Với phong trào Đông Dương Đại hội, Đảng đã tập hợp quần chúng, tập dượt họ, kiểm nghiệm họ để chuẩn bị cho cao trào đấu tranh mới. Các cơ sở Đảng ở Hóc Môn, Bà Điểm và Đức Hòa phát triển nhanh chóng, một lần nữa ba địa phương đã sát cánh bên nhau dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy trong các cuộc biểu tình, đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động.
Năm 1940 Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa lại sát cánh bên nhau kiên cường bất khuất trong khởi nghĩa Nam Kỳ. Tháng 11 năm 1940, các ủy ban khởi nghĩa quận tống đều họp kiểm tra sự chuẩn bị và đặt kế hoạch cho từng địa phương.
Quận Hóc Môn có nhiệm vụ vào quận lỵ tuyên truyền vận động quần chúng trong thị trấn, kêu gọi binh lính đi với cách mạng, triệt hạ đồn Hóc Môn và tiêu diệt bọn gian ác, đồng thời tiếp ứng cho Sài Gòn.
Quận Gò Vấp chịu trách nhiệm diệt bót Bà Điểm, bót Vườn Tiêu Tân Sơn Nhất, bót ngã năm Vĩnh Lộc; ngoài ra còn nhiệm vụ đưa quân vào tiếp ứng cho Sài Gòn.
Quận Đức Hòa có nhiệm vụ cướp chính quyền ở địa phương và chi viện cho Sài Gòn để phối hợp với cuộc binh biến của binh sĩ đồn Ô-ma.
Ngày 20 tháng 11 năm 1940, Thường vụ Xứ ủy ra lệnh khởi nghĩa. Thời gian khởi nghĩa được xác định vào đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940. Lệnh đã gửi đi các tỉnh trong toàn xứ thì trưa ngày 23 tháng 11 năm 1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ở ngoài Bắc vào, mang chỉ thị của Trung ương hoãn cuộc khởi nghĩa, nhưng lệnh khởi nghĩa đã xuống đến các cơ sở, không thể thu hồi lại được, nên cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra. Trước giờ khởi nghĩa, các đồng chí lãnh đạo xứ và thành ủy đều bị bắt. Một số đảng viên phản bội đầu hàng đã khai báo với địch về chủ trương khởi nghĩa nên kế hoạch đã bị lộ.
Gia Định, Chợ Lớn và các vùng xung quanh thành phố, đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940 vẫn tiến hành khởi nghĩa vì không bắt được liên lạc với Thành ủy và Xứ ủy.
Tại quận Gò Vấp, nghĩa quân đã tấn công các đồn bót địch Lăng Cha Cả, bót Vườn Tiêu, bót ngã năm Vĩnh Lộc và bót Phú Lâm...
Quận Hóc Môn huy động một lực lượng lớn quần chúng tham gia khởi nghĩa, cùng lực lượng nghĩa quân của 4 tổng chia thành 4 mũi tấn công áp sát dinh lũy tên quận trưởng Hóc Môn...
12 giờ đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940, các cánh nghĩa quân tiến công đồn Hóc Môn. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta làm chủ tình hình, nhưng đến 4 giờ sáng thực dân Pháp cho hai đội quân từ Thủ Dầu Một và Gia Định đến giải vây.
Ở Đức Hòa, huyện ủy chủ trương tiếp cận thị trấn ngã ba Chùa Ông, sau đó trừ diệt một số tên ác ôn. Đến sáng ngày 23 tháng 11, quân Pháp đưa về thị trấn Đức Hòa một đại đội lính lê dương cùng xe bọc thép, máy bay yểm trợ mở cuộc càn vào xã Đức Hòa và vùng ven thị trấn.
Cũng như Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa và một số vùng Sài Gòn - Gia Định, cuộc khởi nghĩa không thành và bị thực dân Pháp khủng bố, trả thù đẫm máu.
Trước tình hình đó, để bảo tồn lực lượng, quận ủy Đức Hòa buộc phải phân tán lực lượng, chỉ để lại một số đồng chí còn giữ được bí mật ở lại bám cơ sở, số còn lại chia làm hai cánh.
Cánh thứ nhất do bí thư Nguyễn Văn Yến và đồng chí Huỳnh Văn Một chỉ huy rút về giồng Bốt, qua Hóc Môn - Bà Điểm rồi về Truông Mít - Tây Ninh.
Cánh thứ hai ít người hơn, do phó bí thư Lê Văn Lao chỉ huy rút về Mô Ba Làng - Hậu Thanh rồi nhập với nghĩa quân Thủ Thừa - Bến Lức, Trung Quận. Cánh quân do bí thư Nguyễn Văn Yên của Đức Hòa rút về Hóc Môn, gặp cánh quân quận Gò Vấp cũng rút về đây. Ba lực lượng Đức Hòa, Gò Vấp, Hóc Môn rút về làng Mỹ Hạnh (quận Đức Hòa - Chợ Lớn), được nhân dân tiếp tế lương thực, thực phẩm. Một cuộc họp giữa lãnh đạo và chỉ huy ba lực lượng được tổ chức để bàn việc thống nhất lực lượng.
Sau đó cánh lực lượng nghĩa quân Hóc Môn, Gò Vấp, Đức Hòa rút về rừng cao su Phước Vĩnh An (quận Hóc Môn). Ban lãnh đạo chỉ huy ba quận nhât trí cử ra Ban chi ủy Đảng để lãnh đạo gồm 7 đồng chí (2 đồng chí của tỉnh ủy và cán bộ xứ, 2 đồng chí của Đức Hòa, 1 đồng chí của Gò Vấp và 2 đồng chí của Hóc Môn), do đồng chí Nguyễn Văn Mùi (tức Hà Đăng Nam) làm bí thư và đồng chí Đặng Văn Cơ (Tỉnh ủy viên Gia Định làm phó bí thư).
Lực lượng nghĩa quân thống nhất ba quận Hóc Môn, Gò Vấp, Đức Hòa gồm khoảng 150 chiến sĩ (có 1 nữ) với 30 súng trường, 8 súng lửa và các loại lười lê, dao mác, một ít đạn và các dụng cụ khác.
Lực lượng nghĩa quân hoạt động đến cuối tháng 12 năm 1940 thì nhận được chỉ thị của Xứ ủy Nam Kỳ (do nữ đồng chí Nguyễn Thị Sao đưa đến) phân tán để trở về địa phương.
Như vậy, một lần nữa ba địa phương đã tổ chức thành một liên quân thống nhất dưới sự chỉ huy của một ban chi ủy Đảng lãnh đạo, tạo tiền đề cho việc tổ chức lực lượng sau này. | |
|