Ám ảnh Sông Đầm
Ông Hồ Út (55 tuổi) lái con thuyền nhỏ đưa chúng tôi cùng nhà văn Phạm Thông đi trên Sông Đầm. Nhà văn am hiểu địa danh này như lòng bàn tay. Người đàn ông cực kỳ hài hước và “nổi tiếng” với hai câu thơ vui “Làm thơ dán ở đầu cầu/Cô mô có chửa nắm đầu Phạm Thông” dường như trôi theo dòng ký ức về Sông Đầm.
Trong tác phẩm Ám ảnh vùng đông của mình, ông cũng dành một chương nói về Sông Đầm. Theo nhà văn tính “ngang như cua” này, cuối năm 1974, trên chiến trường Quảng Nam - Quảng Đà, vùng đất Kỳ Anh, Kỳ Phú địch bố trí đồn bốt dày đặc. Dân vùng đông bị chúng kèm cứng ngắc trong các khu dồn, thế cô lắm.
Từ khi địch tái chiếm vùng đông, anh em các đội công tác nằm dưới bãi sậy Sông Đầm rã người. Trong bãi sậy bùn nhão, lội xuống lún đến bụng, đến cổ, mắc kẹt luôn dưới vũng lầy. Người dân tìm mọi cách qua mắt địch. Họ dùng thuyền chở tre, dương liễu đến nhận xuống bùn, tạo thành cái đế, bỏ vài tấm phản (ván) hay cửa gỗ ở trên cùng để những nhà hoạt động cách mạng về “nằm vùng”. Họ ngụy trang kín, chui người vào ngồi trong cái “ổ” ấy.
Khó nhất là nấu ăn. Trời trưa nắng mới nấu được. Lúc đó ít khói, địch trên cao điểm An Hà không nhìn thấy. Biết cách mới nấu được cơm giữa bãi sình. Dùng một đoạn tre cứng, dài hơn một sải, lựa chỗ bùn khô cắm nghiêng, treo lon hăng gô ở đầu đoạn tre, đốt sậy khô cầm trên tay đun. Cơm chín, nước sôi, dập tàn tro xuống bùn, không để dấu tích. Nằm dưới bãi sậy mươi ngày người đen như khúc gỗ mun, gầy như ma đói, cùng cực lắm! Được một cái là dân lo cho mình lắm. Những lúc khó quá, không lên khu dồn được, phải “nằm lì” dưới đó mấy ngày.


