Khác

Âm vang Điện Biên

Cách đây 10 năm - vào dịp kỉ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức cuộc thi viết "Âm vang Điện Biên Hàng nghìn bài dự thi - được viết hoặc được kể từ những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 - là hồi ức của những ngưcti trong cuộc, phản ánh chân thực, xúc động và khá toàn diện những ngày tháng hy sinh chiến đấu hào hùng và chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lai Châu24/03/2026NXB Thông Tin và Truyền Thông (Sìn Hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

THAY ĐỔI CÁCH ĐÁNH, ĐIỀU KỲ DIỆU

LƯU TRỌNG LÂN



Kéo pháo vào:

- Ha... i ba nào! Ha... i ba nào!

Sau mỗi lần hô, cả khối người nắm chặt dây tời, choãi chân, rạp mình xuống kéo. Cuộc kéo pháo bằng tay bắt đầu từ tối 15 tháng 1 năm 1954, sau khi chỉ không đầy một ngày đêm, bằng quyết tâm và sức lao động phi thường, gần 5.000 cán bộ, chiến sĩ công binh và bộ binh ta đã hoàn thành một con đường rộng 3,5 mét, dài gần 15 ki-lô-mét, bắt đầu từ cửa rừng bản Nà Nhạn bên đường 41, xuyên rừng rậm, vượt núi cao, qua đỉnh Pu Pha Sông cao ngất, rồi đổ xuống vực Nậm Kho Hu sâu thẳm, vươn tới bắc Bản Tấu trên đường Điện Biên - Lai Châu.


Chủ trương kéo pháo bằng tay nằm trong kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch (bộ phận đi trước), theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", với quyếi tâm tiêu diệt cứ điểm Trần Đình (mật danh Điện Biên Phủ) trong 3 đêm, 2 ngày.


Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, chỉ huy trưởng chiến dịch đi sau, lên đường từ Việt Bắc ngày 5 tháng 1 năm 1954, đến 12 tháng 1 mới tới sở chỉ huy lâm thời ở hang Thẩm Púa.

Sau khi nghe Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái báo cáo kế hoạch, Đại tướng cảm thấy vô cùng phân vân, vì nó hoàn toàn khác với suy tính của Đại tướng tníổc đó. Trong bản báo cáo ngày 6 tháng 12 năm 1953 gửi Bộ Chính trị, Đại tướng ước tính thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ phải mất khoảng 45 ngày, chưa kể thời gian tập trung bộ đội và thời gian làm công tác chuẩn bị.


Nhưng vì vừa mới đến, chưa có đủ yếu tố để bác bỏ phương án đã chọn của bộ phận đi trước, của tập thể Đảng ủy mặt trận (gồm các đồng chí Hoàng Văn Thái (Tham mưu trưởng), Lê Liêm (Chủ nhiệm chính trị), Đặng Kim Giang (Chủ nhiệm cung cấp), có sự tham gia ý kiến của đoàn cố vấn Trung Quốc do đồng chí Mai Gia Sinh làm phó đoàn, nên Đại tướng Võ Nguyên Giáp chấp thuận kế hoạch theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", trong đó có việc làm con đường xuyên rừng 15 ki-lô-mét và cuộc kéo pháo bằng tay vào các trận địa hướng bắc.


Tất cả các đơn vị từ cán bộ đến chiến sĩ đều quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để nhanh chóng đưa pháo vào trận địa. Nhưng một đêm rồi hai đêm, cho đến đêm thứ 10, thay vì ba đêm theo kế hoạch, chỉ có hai đại đội lựu pháo 105 ly và hai đại đội cao pháo 37 ly - tức một phần ba lực lượng - vào được đến nơi, nép mình trong những công sự dã chiến, 16 khẩu pháo còn lại, gồm 8 khẩu 37 ly và 8 khẩu 105 ly vẫn còn đang nằm rải rác trên đường kéo pháo.


Trận địa của hai đại đội pháo cao xạ chúng tôi (815 và 827) nằm giữa cánh đồng Bản Tấu - Nà Hi, với 8 khẩu pháo 37 ly, được ngụy trang bằng rơm rạ trong những công sự lộ thiên đào đắp sơ sài.

Chiều hôm ấy, 25 tháng 1 năm 1954, toàn mặt trận sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

Bỗng như sét đánh ngang tai, một mệnh lệnh được ban xuống từ sở chỉ huy mặt trận: "Hoãn tiến công! Kéo pháo ra, về vị trí cũ!".


Kéo pháo ra:

Cho đến nay đã 50 năm mà tôi còn nhớ rõ, trưa ngày 26 tháng 1 năm 1954, tại sở chỉ huy Tiểu đoàn pháo cao xạ 383, thực chất là một cái bàn nhỏ, kê tạm bên một gốc cây ven rừng, trên đặt một máy điện thoại tay quay (tổng đài 10 cửa) và một cuốn sổ ghi điện. Tôi đang làm nhiệm vụ trực ban (hồi ấy tôi là sĩ quan tham mưu tiểu đoàn) bỗng có tiếng chuông điện thoại reo. Nhấc máy, tôi nghe giọng nói quen thuộc của anh Bích, Trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 367, phụ trách chỉ huy lực lượng tiền phương trung đoàn:


- A lô! Tôi Thành đây! Cho tôi gặp đồng chí Bích (Thành là bí danh của Tham mưu trưởng mặt trận Hoàng Văn Thái).

- Báo cáo anh Thành, tôi Bích đây ạ!

- Anh Bích chú ý! Có lệnh hoãn cuộc tiến công. Cho kéo pháo về vị trí cũ. Lệnh này phải được chấp hành như một mệnh lệnh chiến đấu.

Như có luồng điện chạy qua người, tôi cảm thấy bàng hoàng tột độ. Nín thở, tôi áp chặt ống nghe vào tai và cảm thấy anh Bích hình như đang lặng người đi trong giây lát.

- Thế còn tư tưởng bộ đội thì sao ạ?

- Trước hết hãy chấp hành nghiêm lệnh kéo pháo ra. Mọi thắc mắc giải đáp sau.

- Rõ!

Nghe đến đây tôi thấy trong người bần thần khó tả và cũng chưa dám đeni câu chuyện mình vừa được nghe lén kể lại với ai.

Chuông điện thoại lại reo. Tôi chộp lấy ống nghe. Tiếng của anh Bích:

- "Nha An", "Nha Bảo"1 ("Nha An" là mật danh tiểu đoàn 838, "Nha Bảo" là mật danh tiểu đoàn 394. Các đồng chí Giang, Hậu là tiểu đoàn; Loan Ty là chính trị viên hai tiểu đoàn 383, 394) đâu? Mời anh Giang, anh Hậu hoặc anh Loan, anh Ty ra cầm máy.

Cuộc đối thoại lần này cũng y hệt như lần trước giữa Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và anh Bích.

Tin đột ngột ấy được truyền nhanh xuống tận chiến sĩ, gây nên một cú choáng trong đơn vị chúng tôi. Nhiều anh em yên lặng, thẫn thờ. Cũng có người bộc trực nói thẳng: "Biết bao gian khổ mới đưa pháo được đến đây. Thế mà bây giờ lại không đánh nữa, kéo pháo ra".


Kéo pháo ra so với kéo pháo vào gian nan gấp bội phần. Những giàn lá ngụy trang đã úa vàng từng mảng, đường kéo pháo đã bị lộ từng phần. Máy bay trinh sát của địch suốt ngày lượn vòng soi mói, chỉ điểm cho pháo bắn vào những chỗ nghi ngờ. Trụ tời lung lay. Dây thừng sau nhiều ngày đêm chịu đựng đã bị sờn, ải. Bộ đội mệt mỏi và đói ngủ lạ lùng...


Tuy nhiên, điều kỳ diệu sau đó đã diễn ra trên đường kéo pháo. Các bí thư họp ngay chi bộ Đảng bàn cách lãnh đạo, sau đó phổ biến cấp tốc kế hoạch cho cán bộ, chiến sĩ. Lòng tin tuyệt đối vào cấp trên, kỷ luật tự giác của đội quân cách mạng đã thắng. Tất cả mọi vướng mắc tạm dẹp sang một bên. Đơn vị triển khai ngay công tác chuẩn bị: củng cố trụ tời, vào rừng tìm kiếm dây mây, dây song thay những đoạn dây thừng bị bở, đứt; sửa lại đường kéo pháo; thay mới những giàn ngụy trang. Tất cả 48 khẩu pháo nhất loạt quay đầu. Đơn vị nào vào sau thì ra trước. Đơn vị vào trước thì ra sau.


"Cốc! Cốc!", tiếng mõ thay cho tiếng hô "hai, ba nào" vì các cán bộ đã khản đặc cả cổ. Hàng trăm chiến sĩ lại rạp mình kéo những khẩu pháo nặng trên 2 tấn, vượt trở lại những dốc "Ngựa", dốc "Cây cụt", đèo "ông Mậu", dốc "Bảy tời", dốc "Chuối" đã đi qua lần trước, để sau mười đêm, tất cả an toàn trở về nơi tập kết cũ.


Tờ mờ sáng 6 tháng 2 năm 1954 (mùng 4 Tết Giáp Ngọ), tại một khu rừng thưa gần ki-lô-mét 62 đường Tuần Giáo - Điện Biên, đông đảo cán bộ hai trung đoàn Tất Thắng và Hương Thủy1(Tất Thắng: mật danh cùa Trung đoàn trọng pháo 45. Hương Thủy: mật danh của Trung đoàn cao pháo 367) vui mừng đón Đại tướng Tổng Tư lệnh đến thăm. Đại tướng nhiệt liệt khen ngợi đơn vị công binh, pháo binh, bộ binh đã bảo vệ an toàn, nguyên vẹn 24 khẩu lựu pháo và 24 khẩu cao pháo, tài sản quý giá của quân đội ta.


Về lý do tại sao phải kéo pháo ra, Đại tướng giải thích ngắn gọn, đó là để tiếp tục chuẩn bị lại cho đầy đủ hơn, bảo đảm đánh chắc thắng.

Sau khi chuyển lời chúc tết của Bác Hồ, của Trung ương Đảng, Chính phủ đến cán bộ, chiến sĩ, Đại tướng căn dặn: "Các đồng chí phải tiếp tục giữ bí mật binh chủng đến cùng, phải hết sức tiết kiệm đạn, phải đoàn kết hợp đồng với đơn vị bạn thật tốt, cán bộ phải thương yêu chiến sĩ, đồng cam cộng khổ với anh em".


Rồi Đại tướng báo tin vui: "Trong khi các cậu kéo pháo ra thì quân của anh Vương Thừa Vũ2(Tức Đại đoàn 308 do đồng chí Vương Thừa Vũ làm Đại đoàn trướng) phối hợp với quân bạn Pathét Lào đã bất thần mở cuộc tiến công sang hướng Thượng Lào, tiêu diệt 17 đại đội địch, đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu, tiến sát sông Mê Công, chỉ cách thủ đô Luông Pha Băng 15 ki-lô-mét".


Không khí vui vẻ hẳn lên, Đại tướng nói tiếp: "Để đưa chiến dịch đến toàn thắng, Đảng yêu cầu các đồng chí phải cố gắng nhiều hơn nữa. Phải dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, phải tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch. Ngay từ lần đầu xuất hiện, các đồng chí phải làm cho quân thù khiếp sợ trọng pháo và cao pháo Việt Nam".


Mọi người lắng nghe như nuốt từng lời của Tổng Tư lệnh, mọi tư tưởng đã hoàn toàn thông suốt. Tất cả sẵn sàng để lao vào một cuộc "đại chuẩn bị" sẽ được tiến hành ngay ngày hôm sau.

Rời khu rừng thưa, Đại tướng ghé thăm một đại đội lựu pháo và một đại đội cao pháo, ở đại đội pháo cao xạ 827, Đại tướng đến xem một khẩu đội thao tác bắt mục tiêu và nghe giới thiệu về tính năng pháo 37 ly. Tiểu đoàn trưởng Trịnh Duy Hậu báo cáo: "Đây là khẩu đội của Tô Vĩnh Diện". Đại tướng xúc động gật đầu.


Hôm ấy Đại tướng Tổng Tư lệnh đã để lại trong lòng cán bộ, chiến sĩ chúng tôi những ấn tượng vô cùng sâu sắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn