Bài viết

An Dương Vương (1)

An Dương Vương

An Giang08/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Khác với các đời vua Hùng, niên đại trị vì của An Dương Vương được sử sách xác định chính xác, tuy có 2 mốc ghi khác nhau. Những bộ sử cũ như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục cho rằng thời gian ông làm vua Âu Lạc kéo dài 50 năm, từ 257 TCN đến 208 TCN. Các sử gia hiện đại căn cứ vào Sử ký Tư Mã Thiên là bộ chính sử rất gần thời đại nước Âu Lạc, cho rằng An Dương Vương và nước Âu Lạc tồn tại từ khoảng 208 TCN đến 179 TCN, tức là gần 30 năm.

Vào cuối thời kỳ Hồng Bàng, tại khu vực Bắc Bộ ngày nay tồn tại các cộng đồng Âu Việt và Lạc Việt sinh sống xen kẽ. Nhà nước Văn Lang do các vua Hùng đứng đầu được xem là trung tâm chính trị của người Lạc Việt. Theo truyền thống sử học Việt Nam, Thục Phán là thủ lĩnh của người Âu Việt; sau khi đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần ở phía bắc, ông tiến hành thống nhất hai nhóm cư dân Âu Việt và Lạc Việt.

Sau khi giành quyền kiểm soát Văn Lang, Thục Phán xưng hiệu An Dương Vương, đổi quốc hiệu thành Âu Lạc và đặt kinh đô tại Phong Khê, thường được xác định với khu di tích Cổ Loa. Việc chọn Cổ Loa làm trung tâm chính trị được nhiều nhà nghiên cứu xem là bước phát triển quan trọng về tổ chức nhà nước và quân sự trong lịch sử Việt Nam cổ đại.

Sử sách Việt Nam thường ghi tên thật của An Dương Vương là Thục Phán. Tuy nhiên, bộ sử gần thời đó nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới họ tên của An Dương Vương. Cựu Đường thư dẫn Nam Việt chí (viết thời Lưu Tống) cũng chỉ ghi ""vua Thục đem ba vạn lính đánh diệt Hùng Vương đi, nhân đó cho con mình làm An Dương Vương, trị đất Giao Chỉ"", vua Thục ở đây không rõ là tên họ hay là tên miền đất cai trị.

Một số người đặt ra giả thuyết rằng An Dương Vương là dòng dõi vương tộc nước Thục cổ (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên), sau khi bị nước Tần xâm chiếm thì tổ tiên của ông chạy xuống phía Nam lập quốc. Tuy nhiên, đây chỉ là giả thuyết mang tính suy diễn vô căn cứ, không được hỗ trợ bởi bất kỳ sử liệu hoặc chứng cứ khảo cổ nào. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục đã chỉ ra điểm vô lý của giả thuyết này: ""Nước Thục từ năm thứ 5 đời Chu Thận Tịnh Vương (316 TCN) đã bị nhà Tần diệt rồi, làm gì còn vua nữa? Huống chi từ Thục đến Văn Lang, còn có đất Kiền Vi, đất Dạ Lang, đất Cùng, đất Tác, và đất Nhiễm Mang cách hàng 2 - 3 ngàn dặm, có lẽ nào người Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy nước Văn Lang?""

Sử ký do Tư Mã Trinh thời Đường biên tập, dẫn Thủy Kinh Chú chép:

Cựu Đường thư do Lưu Hú soạn thời Hậu Tấn dẫn Nam Việt chí chép:

Truyền thuyết nói rằng khi lên ngôi, Thục Phán mới 22 tuổi và làm vua được 50 năm. Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng ông làm vua từ năm 257 tới 208 TCN. Nhưng theo đối chiếu với Sử ký Tư Mã Thiên thì niên đại chính xác có lẽ là khoảng năm 208 tới 179 TCN.

Thục Phán sau khi lấy được Văn Lang nhanh chóng ổn định chính quyền, những tù trưởng thuộc Văn Lang cũ vẫn giữ nguyên chức vụ, ông lấy hiệu là An Dương Vương, đổi tên nước thành Âu Lạc, bộ máy nhà nước thời Âu Lạc không có nhiều thay đổi so với bộ máy nhà nước thời Văn Lang. Đứng đầu trong bộ máy hành chính ở trung ương vẫn là Vua và Lạc hầu - Lạc tướng. Đứng đầu các bộ vẫn là Lạc tướng. Đứng đầu các chiềng, chạ vẫn là Bồ chính. Tuy nhiên, ở thời An Dương Vương quyền hành của nhà nước cao hơn và chặt chẽ hơn. Vua có quyền thế hơn trong việc cai trị đất nước.

Cùng thời kỳ , bên Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sáp nhập sáu nước sau nhiều năm hỗn chiến thời Chiến Quốc. Ông tiếp tục tham vọng xâm chiếm Bách Việt, khái niệm vùng đất đai của nhiều bộ tộc khác nhau ở phía nam Trung Quốc. Đạo quân xâm lược nhà Tần do Đồ Thư chỉ huy đã đánh chiếm nhiều vùng đất của các bộ tộc Bách Việt, nhập vào lãnh thổ Trung Hoa. Khi vào lãnh thổ phía Đông Bắc nước Âu Lạc, quân Tần gặp phải cuộc kháng chiến trường kỳ của người Việt do Thục Phán chỉ huy.

Năm 218 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng huy động 50 vạn quân chia làm năm đạo đi chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Âu Lạc, đạo quân thứ nhất do tướng Sử Lộc chỉ huy đã đào con kênh nối sông Tương (vùng An Hưng, Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, Đồ Thư thống lĩnh đã vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng Dịch Hu Tống (譯吁宋), chiếm đất rồi tiến vào Lạc Việt. Bên kia chiến tuyến, Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn làm lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng chiến này. Khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Âu Lạc, Thục Phán lãnh đạo nhân dân chống giặc. Quân Tần đi đến đâu, dân Âu Lạc làm vườn không nhà trống đến đó. Quân Tần chiến đấu trong nhiều năm, Đồ Thư tổ chức tấn công-tiêu diệt không hiệu quả, dần lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân nhà Tần đã kiệt sức vì thiếu lương, thì quân dân Âu Lạc do Thục Phán chỉ huy mới bắt đầu xuất trận, quân Tần muốn tiến hay lui đều bị người Âu Lạc bủa vây đánh úp. Quân của Thục Phán đánh tập kích bất ngờ và dùng cung nỏ tấn công quân Tần. Đồ Thư bỏ mạng trong chiến dịch này. Mất chủ tướng, quân Tần hoang mang mở đường tháo chạy về nước. Sử ký Tư Mã Thiên mô tả tình trạng quân Tần lúc bấy giờ như sau:

Theo Hoài Nam Tử, tướng Đồ Thư bị giết, quân Tần thây phơi máu chảy mấy mươi vạn, nước Tần phải lấy tù nhân bị lưu đày để bổ sung quân đội."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn