ÂN TÌNH CAO CẢ CỦA NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH TÀU KHÔNG SỐ
Ở tuổi 81, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Chủ tịch Hội Truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển tại TPHCM Nguyễn Văn Đức vẫn cần mẫn làm công tác xã hội “để trả ơn nghĩa đồng bào” đã cưu mang các chiến sĩ trong kháng chiến. Ông chia sẻ: Anh em trên những chuyến tàu không số không bao giờ quên ơn của các đồng chí, đồng bào đã bảo vệ, nuôi nấng mình còn nguyên vẹn để tiếp tục làm nhiệm vụ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Những chuyến tàu trên con đường huyền thoại
Mỗi khi kể về những chuyến tàu không số, trong ký ức của cựu thuyền trưởng tàu không số Nguyễn Văn Đức lại bừng sống dậy về một thời hoa lửa; những tháng năm thực hiện nhiệm vụ cao cả trên đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Ông Nguyễn Văn Đức kể: Một sự dấu mốc quan trọng là 17 giờ ngày 1/6/1961, từ Thạnh Phú (Bến Tre) con tàu gỗ, ngụy trang đánh cá lưới rê ven biển có tải trọng 3 tấn xuất quân ra Bắc. Trên tàu có 12 chiến sĩ; được trang bị hai phuy dầu, một phuy nước ngọt và 50kg gạo... Sau 10 ngày vượt biển bằng ý chí và niềm tin quyết thắng, tàu đã cập bến Hải Phòng. Từ thắng lợi này, Ủy ban Thống nhất Trung ương chỉ đạo cho 4 tàu tiếp theo ra miền Bắc thắng lợi.
Sau khi tuyến đường vận chuyển Bắc - Nam trên biển được khai thông, tháng 10/1961, Ðoàn 759 (tiền thân Lữ đoàn 125) được thành lập, ông Nguyễn Văn Ðức là một trong những người tham gia chiến đấu trên 4 tàu gỗ đầu tiên do Xưởng đóng tàu I Hải Phòng sản xuất đều mang tên Phương Ðông. Tháng 11/1962, ông Nguyễn Văn Ðức được biên chế về tàu số 4 (Phương Ðông 4). Trải qua 6 ngày sóng gió, vây hãm của địch, con tàu chở 30 tấn vũ khí này đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau).
Ông Nguyễn Văn Đức nhớ lại: “Đi trên biển rất gian nan, vượt qua màn đêm, sóng gió, bão bùng; có khi nước chảy không biết hướng nào để đi, nếu đi lạc rất dễ gặp quân địch. Muốn canh đường đi cho đúng, đòi hỏi sự dũng cảm thông minh, kiên cường, khả năng phán đoán của người lái tàu để giữ được hướng đi chính xác. Với những chiến sĩ tàu không số vượt biển tiếp viện vũ khí cho chiến trường miền Nam còn phải vượt qua sự kiểm soát nhiều tầng của địch: vệ tinh, máy bay trinh sát, thám báo, hạm đội 7 của Mỹ với tàu khu trục, tàu ngầm, tàu mặt nước...”.
Trước ngày Tổng tiến công Mậu Thân 1968, 3 lần các tàu của ta xuất phát đều bị địch phát hiện phải trở lại căn cứ. Sau cuộc tiến công Mậu Thân, với quyết tâm tìm mọi cách bổ sung vũ khí cho chiến trường miền Nam dù có phải hy sinh, 4 chiếc tàu xuất phát đi theo 4 hướng: Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Bình Ðịnh, Khánh Hòa và Cà Mau. Sau 2 ngày xuất phát, tàu 43 (Thiếu úy Nguyễn Văn Ðức khi đó làm thuyền phó, ông Nguyễn Tất Thắng làm thuyền trưởng) giữ được an toàn nhưng khi qua Vĩ tuyến 17, bị vệ tinh của Mỹ theo dõi liên tục. Sau đó, địch bất ngờ nổ súng, nhiều tàu địch bao vây, cùng 3 máy bay lên thẳng xả súng từ trên xuống, các chiến sĩ tàu 43 anh dũng chống trả. Phải mất 2 giờ sau, tàu mới tiếp cận vào bờ…
Ba chiến sĩ hy sinh, 12 người bị thương, thuyền phó cũng bị thương ở đầu gối. Những chiến sĩ bị thương đưa vào bệnh xá, được Bác sĩ Ðặng Thùy Trâm chăm sóc hơn 30 ngày. “Trong loạt đạn đầu chiến đấu của tàu Mỹ bắn qua, một đồng đội quê Thái Bình đã hy sinh ngay trên tay tôi. Trước khi hy sinh anh nói: “Các anh ở lại chiến đấu”. Anh này mới cưới vợ vài ngày và đã hy sinh vì Tổ quốc mà không màng đến hạnh phúc gia đình...” - Ông Nguyễn Văn Đức ngậm ngùi xúc động kể.
Không bao giờ quên ơn nghĩa đồng chí, đồng bào
Kể về những tháng năm chiến đấu kiên cường trên những chiến tàu không số, ông Nguyễn Văn Đức chia sẻ, khi tàu vào bờ được, đồng bào giúp đỡ ngụy trang giữ bí mật tiếp tế cho anh em chiến sĩ tàu không số. Ngụy trang xong bốc hàng chuyển qua tàu khác, chuyển vũ khí ra chiến trường. Tất cả đều do người dân cùng các chiến sĩ làm nhiệm vụ. Nhờ vậy, có khi địch mở trận càn cách bến tàu chỉ khoảng 1 km nhưng vẫn không phát hiện được. Có những khi tàu bị đánh chìm, nếu để địch bắt sẽ bị giam cầm nhưng chỉ cần các chiến sĩ bơi vào bờ sẽ được dân đón tiếp che chở, nuôi nấng đưa ra Bắc bằng đường Trường Sơn. “Ơn đó bây giờ hơn 60 năm qua, anh em trên những chuyến tàu không số không bao giờ quên khi các đồng chí, đồng bào đã bảo vệ, nuôi nấng mình còn nguyên vẹn để tiếp tục nhiệm vụ. Khi người lính tàu không số về với đời thường sau giải phóng, chúng tôi luôn canh cánh ân tình khi đồng chí, đồng bào trước kia tại cửa sông, cửa rạch, nơi những con tàu cập bến đã che chở, giúp đỡ và không ít đồng bào đã hy sinh...” – ông Nguyễn Văn Đức chia sẻ.



