ẤN TƯỢNG TUỔI THƠ
Đoạn hồi ức tái hiện tuổi thơ của tác giả tại làng Vĩnh Lộc – một vùng quê nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước. Từ những bài học lịch sử đầu đời, hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm tung bay trên cây trâm làng, đến các cuộc biểu tình, đàn áp đẫm máu và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh lan tỏa, tất cả đã hun đúc trong tâm hồn non trẻ một ý chí cách mạng bền bỉ. Ảnh hưởng từ người cha tham gia phong trào khất thuế, người anh là đảng viên cộng sản, cùng khí thế đấu tranh sôi sục của quê hương và sự hy sinh
Tôi bước vào con đường hoạt động cách mạng như một tất yếu phải xảy ra do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Làng Vĩnh Lộc, nơi tôi sinh ra, là một vùng đất khô cằn, hai cánh đồng hẹp chạy ngoằn ngoèo giữa những đồi núi. Người dân quê tôi đời đời sinh sống trên mảnh ruộng bạc màu, mỗi năm thu hai vụ lúa - một vụ cấy, một vụ gieo; ngoài ra còn trồng mía ép mật nấu đường, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, chằm nón đem đi bán ở chợ gần chợ xa. Vất vả là vậy mà cái đói nghèo vẫn đuổi sát sau lưng, như một căn bệnh kinh niên, từ đời này sang đời khác.
Vào những năm 1927 - 1928 phong trào học quốc ngữ lan đến làng tôi. Ban ngũ hương mấy lần hội họp cơm no rượu say mà chưa bàn nổi việc xây dựng một ngôi trường; cuối cùng mới bắt dân đi "xâu" công ích vào rừng đốn cây, chặt tre, cắt tranh mang về dựng một ngôi trường ba gian mái tranh vách đất, gần nhà họp Ban ngũ hương trên ngã tư Tổng Lộ nhìn ra cái ao làng, nơi có cây trâm cổ thụ nghiêng mình trên mặt nước ao tù.
Ngay từ những ngày dầu cắp sách đến trường, tôi gặp được người thầy giáo đầy tâm huyết với quê hương đất nước, luôn động viên lớp học trò nhỏ của mình cố gắng học tập để trở nên người hữu ích. Khi đã đọc thông viết thạo tôi say sưa với những trang sử ký trong sách giáo khoa. Tôi hứng thú khi đọc những trang sách có hình vẽ Hai Bà Trưng ngồi trên mình voi thúc quân đuổi theo Tô Định, Ngô Quyền đứng trên chiến thuyền chỉ huy thuỷ binh tiêu diệt quân Tống trên Bạch Đằng giang, Lý Thường Kiệt cắp giáo rạp người trên mình ngựa đuổi theo kẻ thù đến tận châu Ung, châu Liêm, Trần Quốc Tuấn tuổi già vẫn cầm quân ra trận, Lê Lợi đứng ra chiêu tập anh hùng hào kiệt dựng cờ khởi nghĩa ở đất Lam Sơn đánh đuổi quân Minh.
Trong giờ ra chơi thầy thường thì thầm kể cho chúng tôi nghe cuộc biểu tình do những người cộng sản lãnh đạo chiếm huyện đường Đức Phổ đêm mùng 8 tháng 10 năm 1930. Những người biểu tình đã đốt toàn bộ giấy tờ tài liệu, xoá sạch dấu vết cai trị của chế độ thực dân và vua quan Nam triều bán nước. Tôi so sánh những tấm gương các vị anh hùng dân tộc có công đuổi giặc xâm lăng, giành độc lập, giữ yên bờ cõi với những người cộng sản và nghi ngờ lời buộc tội của bọn quan lại đương thời coi người cộng sản là bọn cướp của đốt nhà, "cộng vợ, cộng chồng" làm điều phi luân bại lý...
Cha tôi là một nông dân tham gia chống Pháp và vua quan Nam triều phong trào khất thuế do các nhà nho yêu nước quê tôi như các cụ Tú Tân, cử Đình... đề xướng. Phong trào thất bại, kẻ bị giam cầm, người bị tù đày biệt xứ, kẻ bị chém đầu. Nhưng tiếng thét chống ngoại xâm của họ vang vọng mãi đến thế hệ chúng tôi và hình ảnh cha như ngọn đèn phía trước gọi tôi bước theo trong đêm tối mịt mùng.
Anh tôi là một người tham gia "hội kín" mà sau này tôi biết là chi bộ cộng sản đầu tiên ở quê nhà. Tuổi nhỏ tôi thường được anh sai ra ngõ chơi để gác cho bạn bè anh đóng vai đám trai làng khăn xếp áo the rong chơi đến nhà tôi hội họp. Tuổi nhỏ tôi cũng được nhìn thấy lần đầu tiên lá cơ đỏ búa liềm treo trên ngọn cây trâm cổ thụ ở ao làng. Đó là một sáng tháng mười, trời se lạnh nhưng không mưa. Trên đường đến trường, từ xa bọn học trò chúng tôi đã nhìn thấy người đứng rất đông ở ngã tư Tổng Lộ chỉ tay về phía cây trâm ở ao làng. Bọn tôi chạy lại và nhìn thấy lá cờ đỏ búa liềm trên ngọn cây trâm nhẹ bay trong gió sớm. Một lúc sau lý trưởng đến quát nạt. Ông vào điếm canh định đánh mõ họp tráng đinh thì phát hiện trong mõ có truyền đơn. Ông gọi tôi lại bảo đọc to lên. Tôi cầm tờ truyền đơn in đông sương, màu chữ tím, đọc dõng dạc từng câu. Tháng năm trôi qua, hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm vẫn còn in đậm trong trí ức của tôi và tôi nhớ trong truyền đơn có đoạn kêu gọi đánh đổ thực dân Pháp và vua quan Nam triều phong kiến bán nước, đòi người cày có ruộng...
Lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ trên ngọn cây trâm già cho mãi đến trưa mới hạ xuống để lý trưởng đem lên trình quan huyện.
Sau những ngày ấy không khí trong làng sôi động hẳn lên. Một sáng cuối đông năm ấy, tiết trời còn lạnh, tôi co ro trong tấm áo tơi đến trường thì thấy anh Lâm Quang Mậu - người bạn thường lui tới với anh tôi - tay cầm chiếc cần câu dài đang thì thầm chuyện trờ với vài ba người khác trước cổng trường. Trông gương mặt, tôi đoán họ đang bàn điều gì hệ trọng. Tôi lặng lẽ bước qua đường vào lớp. Một lúc sau, khi những tia nắng đầu ngày bừng lên xua tan giá buốt cuối mùa đông, từng đoàn người từ các làng Vạn Lộc, Châu Nhai kéo đến, trên cánh tay trái có gim một băng đen. Bấy giờ anh Lâm Quang Mậu mới luồn lá cờ đỏ búa liềm vào chiếc cần câu cầm đi đầu đoàn biểu tình. Đoàn người kéo đi về hướng huyện lỵ, hô vang những khẩu hiệu đòi tổ chức truy điệu những người chết và bồi thường cho những người bị thương trong cuộc biểu tình ở Tổng Châu những ngày trước đó. Không khí đấu tranh tràn ngập quê tôi, mọi người chờ đợi thắng lợi. Nhưng buổi chiều một tin không vui báo về. Cuộc biểu tình kéo lên huyện lỵ làm bọn nha lại khiếp sợ, tên tri huyện chấp nhận yêu cầu để chuyển lên cấp trên. Nhưng trên đường về, khi đoàn dừng lại mít tinh ở gò Tạng (Hà Nhai) thì bọn lê dương từ tỉnh kéo lên xả súng máy bắn vào cuộc mít tinh. Một số người chết, nhiều người bị thương. Mẹ và bà tôi lo lắng, đứng ngồi không yên chẳng biết số phận anh tôi thế nào. Mẹ bảo tôi đi dò tìm tin tức. Tối hôm ấy anh tôi về, áo quần ướt sũng. Bà tôi mùng lắm, ôm cháu sờ khắp người xem có bị thương đâu không. Giọng run run, bà bảo:
- Ngày xưa cha mày cũng theo các cụ chống Tây, khất thuế. Cứ mỗi lần nghe súng Tây nổ, bà lại lo, nhưng biết khuyên các cháu thế nào bây giờ? Con nối nghiệp cha là nhà có phúc.
Anh tôi kể:
- Khi nghe tiếng súng, chỉ huy cuộc mít tinh ra lệnh giải tán. Đạn nó bắn chiu chíu trên đầu, cháu nhảy xuống đám ruộng cấm (ruộng giữ nước để nuôi cá sau vụ gặt) nằm tránh. Đợi khi im tiếng súng, bọn nó rút hết cháu mới lên bờ chạy về.
Giọng anh tôi rất vui, như người vừa dự vào một trò chơi nguy hiểm, khiến không khí gia đình cũng vui lây.
- Bây giờ rồi sao hả cháu? - Bà tôi hỏi.
- Đấu tranh nữa chứ bà, đấu tranh đến bao giờ mình giành lại được đất nước.
Mùa xuân năm sau, làng quê tôi thay đổi rất nhiều. Dưới sự lãnh đạo của Nông hội đỏ, bà con nông dân nghèo đòi tăng tiền công cấy, công cày, công gặt, công chặt mía nấu đường... Những tổ đổi công, vong công tương trợ làm ăn, giúp đỡ nhau qua những ngày giáp hạt. Đêm đêm các lớp học quốc ngữ vang lên trong thôn xóm. Đội Tự vệ đỏ thành lập do anh Mười Liết (một lính chiến của Pháp trong thế chiến 1914 -1918 mãn hạn trở về làng) làm đội trưởng. Đêm đêm theo hiệu lệnh của người đội trưởng, các đội viên bước đi rầm rập. Những buổi tập thường diễn ra ở sân nhà tôi hay sân đình, sân miếu. Hết tập đội ngũ đến tập bắn súng, tập lăn lê bò toài. Ngày làm lụng vất vả để kiếm miếng ăn, tối tham gia luyện tập. Nhưng không một ai phàn nàn mà còn tỏ ra hăng hái. Đội Tự vệ đỏ còn làm các việc tuần tra canh gác ban đêm. Từ ấy xóm làng yên vui, ngày đêm của ngõ mở toang. Cây trái ngoài đồng, trong vườn, bò, heo trong chuồng đêm đêm đã có những đội viên tự vệ đỏ ghé mắt nhìn vào nên kẻ gian không dám ngang nhiên trộm cắp. Thật là một thời kỳ "Nghiêu - Thuấn" ở quê tôi. Không khí ấy nung nấu trong tôi lòng khát khao một cuộc sống tự do, trong một đất nước độc lập, yên bình. Bọn hương lý trong làng thấy sức mạnh của đội Tự vệ đỏ nên cũng kiêng nê. Khi xét xử những xích mích dù to, dù nhỏ trong làng đều có ý kiến người tổ chức và chỉ huy đội tự vệ. Người dân đã bắt đầu ý thức được sức mạnh của mình nên không còn cảnh khoanh tay cúi đầu cung kính trước sự quát nạt của bọn hào lý trong làng. Một mùa xuân trôi qua cùng với vẻ đẹp thiên nhiên là vẻ đẹp bừng bừng khí thế cách mạng trên khuôn mặt của người dân quê tôi.
Đêm đêm từ những cuộc mít tinh trong từng thôn xóm để nghe chỉ thị của cấp trên vang lên tiếng trống, tiếng tù và và tiếng hô khẩu hiệu:
Ủng hộ Xô - viết Nghệ Tĩnh!
Đả đảo thực dân phong kiến!
Đông Dương hoàn toàn độc lập!
Trong khi người dân quê tôi đắm mình trong không khí cách mạng tràn đầy hứng khởi thì một tin sét đánh từ tỉnh lỵ bay về. Giữa đêm 23 tháng 4 năm 1931, ở phía nam bờ sông Trà Khúc thực dân Pháp và vua quan Nam triều đã chém ông Nguyễn Nghiêm - một người cộng sản, bí thư đầu tiên của tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi. Nghe tin có người bật lên tiếng khóc. Cái chết của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Nghiêm như một lời cảnh cáo đối với bọn thực dân Pháp cướp nước và vua quan Nam triều bán nước, nung nấu lòng căm thù của quần chúng nhân dân. Nhiều cuộc hội họp, mít tinh lớn nhỏ bùng lên với tiếng thét uất nghẹn.
"Đả đảo đế quốc khủng bố!
Đả đảo vua quan Nam triều bán nước!
Đả đảo cường hào gian ác!"
Cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên đỉnh núi Đá Dê, núi Đá Chồng, núi Tron, núi Nón... trong suốt một tuần trăng sau cái chết của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Nghiêm.
Đầu tháng 5 năm 1931, một hôm đang ngồi trong lớp học nhìn ra tôi thấy tùng đoàn người từ phía tây kéo xuống, phía bắc kéo vào, hai bên có tự vệ đi kèm giữ trật tự. Thầy giáo cho lớp nghỉ học ra về. Tôi ôm sách vở chạy vụt ra đường theo đoàn biểu tình đến gò mả phía nam xóm trường thì thấy người các nơi kéo về đứng chật cái gò rộng. Cờ đỏ búa liềm bay phấp phới trên những băng vải trắng có dòng chữ màu đen "Chống khủng bố". Mọi người đang chăm chú đúng nghe diễn thuyết. Sau đó mọi người trật tự đi theo lá cờ tổng chỉ huy do anh Bảy Xất - một người anh họ của tôi cầm đi đầu. Khi đoàn biểu tình bước vào trận địa làng Phước Lộc thì được tin báo bọn lính Tây từ tỉnh kéo lên chặn ở cầu sắt Phước Lộc. Người chỉ huy ra lệnh phất cờ dừng lại để bàn cách đối phó. Nhưng phía sau tưởng là gặp địch nên tản sang hai bên rồi tự động bỏ chạy về các ngả.
Cuộc biểu tình tan vỡ hoàn toàn, về đến nhà mọi người lo bọn lính lê dương kéo đến triệt phá làng nên lập tức đào hầm cất giấu lúa gạo, khoai sắn, đồ đạc. Một không khí hoang mang lo sợ bao trùm khắp xóm làng. Hai ba ngày trôi qua không thấy bọn lính kéo đến. Nỗi lo chưa kịp tan hết thì được tin cùng ngày hôm ấy, đoàn biểu tình ở phía bắc Sơn Tịnh kéo đến cầu Bồ Đề (nay là cầu Kênh), cách huyện lỵ chừng 1 cây số thì bọn lính lê dương chặn lại, xả súng bắn chết mười bốn người, nhiều người bị thương, bị bắt.
Từ đây lại bắt đầu một thời kỳ bọn thực dân câu kết với phong kiến khủng bố phong trào cách mạng tỉnh tôi. Bọn lính lê dương kéo về phía tây Sơn Tịnh đóng ở An Đình, Châu Nhai... Ở mỗi tổng chúng đặt thêm chức bang tá với một đội lính bản xứ người Bắc; trong từng làng lập hội đồng kỳ hào, hội đồng tộc biểu (để quản lý người trong họ) và một đội dân đoàn để đàn áp khủng bố! Ngày đêm chúng lùng sục ráo riết những người cộng sản. Nhiều cán bộ hy sinh trong các cuộc mít tinh, biểu tình, hoặc bị bắt như các ông Tôn Diêm, Phan Thái Ất1 (Phan Thái Ất người Nghệ An vào hoạt động ở Quảng Ngãi), anh Xán, chị Trinh... Một không khí buồn lo lan tràn trong làng quê.
Một ngày đầu tháng tám năm 1931 nắng nóng, không khí oi nồng. Những đám mây đen kịt ở chân trời báo hiệu những cơn giông săp ập đến. Tên bang tá họ Tôn cùng với đội lính người Bắc từ Phước Lộc kéo về làng tôi. Bọn chúng gọi đám hương lý kỳ hào đến ra lệnh đưa lính về từng nhà tình nghi là cộng sản để bắt. Các anh Sáu Hứa, Bốn Vy, Bảy Xuất và anh tôi bị chúng lôi ra ngã tư Tổng Lộ tra tấn. Trước sau bọn lính chỉ hỏi có một câu "cộng sản ở đâu? khai ra". Đến chiều bọn chúng trói ngoặt cánh tay ra sau lưng, xâu thành một hàng dài bắt đi. Những ngày sau đó các cán bộ cốt cán trung kiên của Đảng ở nhiều cấp lần luợt sa lưới. Quần chúng hoang mang, bọn cường hào được dịp ngóc đầu dậy ức hiếp dân nghèo. Vài người trước có tham gia Tự vệ đỏ, nay lo sợ, chạy trốn vào nhà thờ, xưng tội với cha cố mong nhờ sự che chở. Từ hôm anh tôi bị bắt, bà và mẹ tôi rất lo lắng buồn phiền.
Bà tôi bảo:
- Bà chỉ sợ nó không chịu nổi tra tấn tù đày mà khai ra điều không phải thì có lỗi với cô bác và cha mày.
Trong hoàn cảnh ấy tôi phải tỏ ra là người cứng cỏi để can ngăn, an ủi bà và mẹ.
Tôi nói:
- Anh cháu dặn "trong bất cứ hoàn cảnh nào nhà ta cũng không lạy lục van xin ai cả".
Bà tôi trầm ngâm:
- Vậy thì bà yên lòng.
Trong những ngày nặng nề ấy lính lê dương, đi kèm có viên thông ngôn, về các đình làng kéo lên một lá cờ xanh rồi họp dân làng bắt ký giấy quy thuận nhà nước bảo hộ, bắt hội đồng hào mục, tộc biểu cam đoan không theo, không che giấu cộng sản và mỗi làng phải nộp về đồn Ba Gia hàng chục gánh heo, gà, vịt.
Mùa hè năm 1932 chúng tôi theo thầy giáo lên huyện dự kỳ thi sơ học yếu lược. Chúng tôi đi qua Gò Trạng, nơi bọn lê dương xả súng bắn vào đoàn biểu tình ngày 19 tháng 1 năm 1931, qua cầu Bồ Đề trên, quốc lộ số 1, nơi bọn lê dương bắn vào đoàn biểu tình khi họ ở trên cầu, trong tay không có một thứ vũ khí nào để tự vệ. Tôi hình dung ra cảnh hàng loạt người ngã xuống, quằn quại trong vũng máu trên mặt cầu hay rơi xuống lòng khe. Bất giác tôi nhớ lại lời bà tôi kể: "Họ có súng, mình tay không. Bao người tài giỏi như Cử Thụy, Tú Tân, Âm Loan, Bố Khiết... đã sắm đủ dao tu, thang dây, thang xếp để trèo vào Thành mà cũng chẳng được gì. Rốt cuộc người bị chém, kẻ bị đày, người chết trong tù, kẻ đi biệt xứ...". Đâu là phương hướng, là bến bờ trong cuộc đấu tranh chống Tây của những người yêu nước. Từ sâu kín lòng mình, tôi vô cùng kính trọng tấm gương hy sinh cao cả của những bậc anh hùng, nghĩa sĩ, những người ngã xuống để giành quyền tự do độc lập cho đất nước. Nhưng sự nghiệp của họ sẽ đi về đâu? Và rồi từ tầng sâu ý thức gợi cho tôi nhớ lại lời kêu gọi của Đảng Cộng sản trong các tài liệu mà tôi đã nhiều lần đọc cho người dân nghèo quê tôi nghe. "Mất nước phải đòi lại nước, mất tự do phải giành lại tự do", "thất bại là mẹ đẻ thành công". Tôi bỗng thấy như mình có thêm sức mạnh và quyết tâm đi theo con đường của cha anh và bao người đã đi.


