Bài viết

ÁNH ĐÈN BÊN CHIẾN TRẬN

Mẹ ơi con bước vào trang sử Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Gia Lai27/04/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường Đại học Quy Nhơn)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang

giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai

giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội

vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận

chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường

Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn

mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm

tin vào chiến thắng.

“Mẹ ơi con bước vào trang sử

Máu đỏ tim hồng viết bản hùng ca

Giữa đạn bom con giữ vững quê nhà

Cho tổ quốc ngập tràn sắc cờ hoa”

Dưới làn sóng mưa bão, những chàng trai tuổi đôi mươi vẫn cười vang

giữa chiến hào. Họ lấy tình đồng đội, chia nhau từng giọt nước, từng lát khoai

giữa rừng sâu. Có người ngã xuống khi chưa kịp đáp lời từ biệt, nhưng đồng đội

vẫn giữ lời hứa: “Hãy sống thay phần của những người đã đi xa.” Từ những trận

chiến oanh liệt ở Điện Biên Phủ, những ngày tháng căng thẳng trên dãy Trường

Sơn, cho đến những tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, những người lính ấy luôn

mang trong mình tinh thần thép, trái tim cháy cháy tình yêu quê hương và niềm

tin vào chiến thắng.

Mùa thu năm 1950, dưới lời kêu gọi các chiến sĩ, nhân dân đứng dậy tham

gia chiến dịch tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp trên chiến tuyến Cao

Bằng – Lạng Sơn, chàng trai Phạm Trí Liên (Sinh năm 1930, trú tại TDP Phùng

Hưng, phường Cảnh Thụy) khi ấy tròn 20 tuổi đã xếp bút nghiên lên đường

nhập ngũ. Ông kể, “Đó là những đêm hành quân xuyên rừng, đối mặt với đạn

pháo, bệnh tật, thiếu thốn lương thực, thuốc men. Có đồng đội bị mảnh đạn văng

vào làm mù mắt, có người mất cả đôi chân vì giẫm phải mìn. Ranh giới giữa sự

sống và cái chết lúc ấy mong manh lắm. Thế nhưng, các chiến sĩ của ta đều kiên

cường tiến về phía trước để thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả”. Con đường số 4

đoạn qua đèo Bông Lau - Lũng Phầy dài gần chục km thuộc địa phận huyện

Tràng Định, giáp tỉnh Cao Bằng, có địa thế hiểm trở, một bên núi dựng, một bên

khe sâu. Con đường đèo vắt ngang qua sườn núi được coi là “cửa tử” của mọi

thế trận phục kích. Theo ông Phạm Trí Liên, những ngày sôi động đó, ông là

lính trinh sát nên thường đi thực địa kiểm tra thì thấy cây cối um tùm, địa hình

mấp mô. Tại đây, các tổ, đội công tác của ta tổ chức đào công sự kéo dài hàng

km, đồng thời chuẩn bị các trận địa súng cối, súng bazooka. Khi nghe thấy tiếng

ô tô của địch đi trên đường là lập tức triển khai lực lượng vây đánh. Địch cứ thế

bị thất bại, tiêu diệt, quân ta phá hủy 53 xe, đốt cháy 10 vạn lít xăng, diệt 250

lính Âu- Phi trong đó có 2 sỹ quan. Đến tối 10/10/1950, huyện Tràng Định hoàn

toàn giải phóng. Trên đường chỉ huy chiến dịch, tối cùng ngày, Bác Hồ đã gặp

mặt cán bộ, chiến sỹ đại đoàn 308 và nhân dân xã Chi Lăng, huyện Tràng Định.

Chiến thắng biên giới Thu - Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính

trị của thực dân Pháp. Nhờ chiến thắng này, chúng ta đã khai thông 750 km

đường biên giới Việt - Trung với 35 vạn dân, phá thế kìm kẹp của thực dân Pháp

đối với căn cứ địa Việt Bắc.

Sau đó, ông Liên lui về hậu phương tiếp tế cho một số chiến dịch như

Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh,.. Đến đầu năm 1954 Pháp xây

dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu

(Bắc – Trung tâm – Nam) với mục đích biến nơi này thành “pháo đài bất khả

xâm phạm”, dụ quân ta vào trận đánh lớn để “nghiền nát chủ lực Việt Minh”.

Trong bối cảnh ấy, Bác Hồ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta anh dũng bước

vào cuộc kháng chiến. Lúc ấy, người bộ đội cụ Hồ Phạm Chí Liên đã ra trận tiếp

tục công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước. Ông hành quân lên lĩnh điểm cao,

“khó khăn nhất là địa hình đồi núi dốc, không có đường cơ động, quá trình thực

hiện nhiệm vụ thường xuyên thiếu nước uống nên mất rất nhiều ngày anh em

mới chiếm lĩnh được trận địa để bước vào chiến đấu", cựu chiến binh Phạm Trí

Liên nhớ lại. Ông khi đó giữ chức Trung đội phó được giao nhiệm vụ bắn từ xa

vào chiến trận của địch, ông kể lại “Sáng sớm, lệnh của sư đoàn yêu cầu đánh

vào quân Pháp đang tập thể dục, ông cùng đồng đội cầm chiếc súng cối 160 li

nấp ngay sau chiến hào bắn thẳng vào quân địch, tiêu diệt được 12 quân cùng 2

người bị thương nặng. Còn có một lần, quân địch rút lui, ông cùng những người

chiến sĩ đã quả cảm cầm pháo đuổi theo cả đội quân đang tháo chạy, cùng lúc

đánh tan ý định rút lui của quân Pháp, gần như hết cả một trung đội không ai đi

được nữa”. Có những ngày, quân tiếp tế không tiếp cận được chiến trường, ông

phải ăn muối, uống nước sông vô cùng đói khổ mệt nhoài, ông Liên nói “Hôm

nào ăn ngon lắm cũng chỉ là ít nắm cơm với 1-2 chai nước cả tiểu đội chia nhau

uống”. Chiến đấu anh dũng được gần 1 tháng, không may trong một lần bắn

pháo, ông bị quân địch nhắm vào và bị thương nặng phải vào nhà thương binh

nằm chữa trị suốt cả trận chiến. Nhưng không vì thế mà ông chịu trận trước số

phận, trước sức khỏe. Sau khi phục hồi, có thể đi lại, ông đã cùng các bác sĩ giúp

chữa trị cho các đồng đội khác, thỉnh thoảng vẫn theo dõi quân địch rồi báo về

cho trung đoàn. Ông bảo, ngày nghe tin quân ta chiến thắng dường như mọi mệt

mỏi, đau đớn trong ông đều tan biến, cuối cùng ông cũng có thể về bên vòng tay

ấm áp của mẹ, của gia đình rồi... 71 năm đã trôi qua, song ký ức của những

người cựu chiến binh về một thời hoa lửa trên chiến trường Điện Biên Phủ vẫn

không hề xóa nhòa. Bởi đó là những năm tháng rực rỡ nhất, nơi họ đã dùng

máu viết nên lịch sử bằng chiến thắng lừng "lẫy năm châu, chấn động địa

cầu".

Cuộc đời ông Phạm Trí Liên là bản trường ca về lòng yêu nước, về sự hy

sinh thầm lặng của cả một thế hệ. Câu chuyện của ông mãi là bài học quý giá, là

ngọn lửa truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay về tình yêu Tổ quốc và tinh thần

phụng sự không bao giờ tắt. “Các cháu, các con cứ nghe đấy, thấy đấy mà nhớ.

Nhờ sự hy sinh của các anh nên mới có hòa bình

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn