Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng A Nun

Huế21/08/2026Xã Thiện Tín (Đoàn xã Thiện Tín)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng A Nun sinh năm 1945, người dân tộc Tà Ôi (Pacô), quê ở làng Thượng Ninh, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, tham gia cách mạng năm 1961, nhập ngũ tháng 3-1962. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là Trung đội trưởng gùi thồ thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 224, Trung đoàn 2, Cục Hậu cần, Quân khu 5, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 14 tuổi, A Nun tham gia vận chuyển hàng cho mặt trận ở tuyến đường A Lưới. Tháng 7-1961, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyển hàng từ Quảng Trị vào Quảng Nam, anh xung phong ở lại tuyến vận tải tiếp tục công tác.

Những ngày đâu, A Nun chí mang được 20kg vũ khí, nhưng nhờ kiên trì rèn luyện, anh đã dần nâng cao khả năng của mình, từ 50kg vũ khí, đạn dược, rồi đến 70kg, 80kg. Năm 1968, anh vác được tới 90kg, thậm chí có lần A Nun vác được khối lượng hàng tới 190kg.

A Nun đã phát huy nhiều sáng kiến để đưa năng suất vận chuyển của bản thân và toàn đơn vị ngày càng tăng cao, tiêu biểu là cách làm bè qua sông. Anh đã cải tiến dây an toàn cho thêm bền, thêm chắc, bảo đảm số lượng người ít đi nhưng vẫn mang được nhiều hàng trên bè hơn.

Có lần, nòng pháo nặng cần phải có tám người khiêng, mà đường di chuyển lại chật hẹp, khó đi, A Nun đã nghĩ ra cách khiêng chỉ cần ba, bốn người, giúp cho pháo được vận chuyển qua địa bàn đường giao thông nhỏ hẹp và những cây cầu nhỏ.

Trong chiến dịch Plây Me (1965), đơn vị phải chuyển dây điện - một loại hàng gây khó khăn cho việc di chuyển, A Nun nghĩ cách kẹp hàng chắc gọn, mỗi chuyến mang được 150kg dây, đi được cả ngày lẫn đêm, vì thế, đơn vị đã kịp thời phục vụ yêu cầu của tiền tuyến.

Cùng với việc cải tiến kỹ thuật mang vác, A Nun còn vận động anh em tranh thủ thời gian sửa đường cho dễ di chuyển, tìm thêm các tuyến đường mới để đỡ phải leo dốc và vận chuyển hàng đến địa điểm yêu cầu sớm hơn. Đội của anh thường giao hàng sớm từ nửa giờ đến hai giờ. Mùa mưa, nước lũ cản đường vận chuyên, anh đề xuất ý kiến làm cầu treo và xung phong cùng anh em bơi qua sông đề ghép nối vật liệu làm câu. Cầu được làm xong đã bảo đảm đưa hàng nhanh chóng hơn cho các đơn vị ở phía trước.

Có lần, đơn vị anh phải chuyển một máy nổ nặng 173kg, nếu khiêng phải dùng 4 đòn và phải bỏ bớt các hàng khác. A Nun nghiên cứu cách mang và xung phong mang máy nổ một mình để các anh em khác chuyển hàng. Hôm ấy, cả đội phải đi từ 4 giờ sáng, khi vượt qua khu rừng vừa bị máy bay B52 ném bom, anh lại cùng anh em chữa cầu bị phá, đến nơi giao hàng là 5 giờ chiều, giao hàng xong trở về kho là đúng 8 giờ tối.

Cuối năm 1969, khối lượng hàng rất nhiều, tuyến vận chuyển bị địch bắn phá dữ dội nên một số ít anh em chỉ muốn mang nhẹ để đi cho nhanh vì đường đi khá hiểm trở. A Nun vừa gương mẫu mang nhiều, vừa nghiên cứu cải tiến cách buộc hàng sao cho vừa nhiều, vừa gọn, vừa bảo quản chu đáo. Noi gương anh, toàn đơn vị đã dấy lên một cao trào xung phong vận chuyển nhiều hàng trên các tuyến đường ác liệt, nên bảy tháng đầu năm 1968, trung đội của A Nun dẫn đầu năng suất toàn ngành vận tải.

A Nun được bầu là Chiến sĩ thi đua 4 năm liền (1965-1968), được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Ngày 20-12-1969, A Nun được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn