Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ANH HÙNG BẾN TRE (8)

Tây Ninh13/05/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa vùng đất Bến Tre giàu truyền thống cách mạng, nơi những rặng dừa xanh đã chứng kiến biết bao lớp người ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc, cái tên Nguyễn Tấn Bền luôn được nhắc đến với sự trân trọng và tự hào. Ông là hình ảnh tiêu biểu của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, suốt đời gắn bó với lý tưởng, với Nhân dân và với quê hương xứ Dừa anh hùng.

Sinh ra trong một thời kỳ đất nước còn nhiều biến động, ông Nguyễn Tấn Bền sớm được hun đúc tinh thần yêu nước từ truyền thống gia đình và quê hương. Khi Tổ quốc cần, ông không ngần ngại dấn thân, lựa chọn con đường cách mạng đầy gian nan, thử thách. Những năm tháng tham gia hoạt động cách mạng là quãng thời gian ghi dấu biết bao hy sinh thầm lặng, nơi ý chí, lòng quả cảm và niềm tin sắt son của người chiến sĩ luôn được tôi luyện trong khói lửa chiến tranh.

Lớn lên trong một gia đình nghèo giữa những năm tháng chiến tranh loạn lạc tại xã Phước Mỹ Trung, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (cũ), ông Nguyễn Tấn Bền sớm hình thành ý thức yêu nước và giác ngộ cách mạng. Mới 15 tuổi, ông cùng người anh trai Nguyễn Văn Tư tham gia hoạt động cách mạng. Trong quá trình hoạt động, ông đảm nhiệm công tác liên lạc cho Ủy ban Kháng chiến – Hậu cần Nam Bộ, với tinh thần dũng cảm, mưu trí và trách nhiệm, ông lần lượt được giao giữ các chức vụ Trung đội trưởng du kích liên quân, Trung đội trưởng Đại đội địa phương.

Đến năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục rèn luyện và công tác trong quân đội. Những năm sau đó, ông phục vụ tại Trung đoàn 1, Sư đoàn 330, không ngừng trau dồi bản lĩnh chính trị và năng lực quân sự. Năm 1966, ông trở lại chiến trường miền Nam, trực tiếp tham gia chiến đấu tại các đơn vị Tiểu đoàn 6 huyện Nhà Bè (cũ), Tỉnh đội tỉnh Long An (cũ). Năm 1968 sau khi sáp nhập Tiểu đoàn 265 thuộc Phân khu 3, ông bị thương và chữa trị tại đây đến năm 1969.

Không chỉ có ông kiên trung trên con đường cách mạng, người vợ của ông cũng sớm giác ngộ lý tưởng, âm thầm tham gia kháng chiến, trở thành hậu phương vững chắc và người đồng chí thủy chung trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.

Trong giai đoạn 1972 – 1974, ông được giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là vận tải vũ khí, phục vụ công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ông tiếp tục tham gia chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Sau thắng lợi, ông được giao nhiệm vụ vận động binh lính chính quyền Sài Gòn ra đầu hàng và giao nộp vũ khí, góp phần giữ vững an ninh, trật tự trong những ngày đầu hòa bình.

Năm 1974, trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt, khi ông cùng vợ đang trực tiếp tham gia phục vụ cho chiến trường, mẹ và chị gái của ông cũng bị địch bắt, giam giữ và tra tấn. Sau khi được thả, mẹ ông mang trên mình những di chứng nặng nề, bị tàn phế, tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng; còn người chị gái thì sức khỏe suy giảm nghiêm trọng, để lại những hệ lụy kéo dài về sau không chỉ có thế ông và gia đình lại nhận được tin dữ, người anh trai của ông đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Sự mất mát ấy là nỗi đau lớn đối với gia đình, dẫu phải gánh chịu những tổn thất to lớn cả về thể xác lẫn tinh thần, cả gia đình ông vẫn một lòng kiên trung với Tổ quốc, thủy chung với cách mạng, không khuất phục trước sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù đồng thời cũng càng hun đúc thêm ý chí, lòng căm thù giặc và quyết tâm chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc nơi người chiến sĩ cách mạng kiên trung.

Sau những năm tháng ấy, năm 1979, ông tiếp tục lên đường tham gia chiến trường Campuchia, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả. Suốt chặng đường dài từ thời niên thiếu đến khi nghỉ hưu, ông đã bền bỉ cống hiến cho Tổ quốc bằng cả tuổi thanh xuân và lòng trung thành son sắt của một người chiến sĩ cách mạng kiên trung.

Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, ông đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý. Trong đó có Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Ba, cùng nhiều huân, huy chương khác như Huân chương Chiến sĩ thi đua, Huy hiệu Thành đồng, Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Huy hiệu Dũng sĩ diệt ngụy, cùng bốn Huân chương Dũng sĩ Quyết thắng hạng Nhì và hạng Ba. Những phần thưởng ấy là sự ghi nhận xứng đáng cho quá trình chiến đấu, cống hiến bền bỉ, kiên cường của người chiến sĩ cách mạng suốt nhiều thập kỷ.

Hòa bình lập lại, người chiến sĩ năm xưa trở về đời thường nhưng không rời bỏ tinh thần cách mạng. Ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng luôn nêu cao tinh thần gương mẫu, trách nhiệm, sống giản dị, nghĩa tình, tích cực tham gia xây dựng quê hương. Với ông, phụng sự Tổ quốc không chỉ là trong chiến tranh, mà còn là sự cống hiến bền bỉ trong thời bình, bằng chính những việc làm cụ thể, thiết thực cho cộng đồng. Hiện nay, ông đang sinh hoat tại Chi hội Cựu chiến Binh và là đảng viên thuộc Chi bộ khu phố Bình Yên Đông 2, phường Long An, tỉnh Tây Ninh.

Đối với gia đình và thế hệ trẻ, ông là tấm gương sáng về lòng yêu nước, đức hy sinh và ý chí vượt khó. Những câu chuyện về một thời chiến đấu gian khổ, về tình đồng chí, đồng đội keo sơn và niềm tin son sắt vào thắng lợi của cách mạng được ông kể lại bằng giọng điệu điềm đạm, chân thành, như một cách truyền lửa cho thế hệ hôm nay và mai sau.Vừa qua, ông Nguyễn Tấn Bền vinh dự được Đảng trao tặng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng. Đây không chỉ là sự ghi nhận quá trình rèn luyện, phấn đấu bền bỉ suốt cuộc đời của người đảng viên cách mạng kiên trung, mà còn là minh chứng sinh động cho lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân mà ông luôn gìn giữ, vun đắp qua từng chặng đường lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn