ANH HÙNG CÁCH MẠNG VÕ VĂN TẦN
ANH HÙNG CÁCH MẠNG VÕ VĂN TẦN
Đồng chí Võ Văn Tần sinh năm 1891 trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước tại làng Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc tỉnh Long An). Thời thế và hoàn cảnh sống đã sớm nhào nặn nên tinh thần phản kháng và ý chí cách mạng trong ông. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán, nhưng nhận thấy loại chữ này không còn thông dụng, ông chủ động chuyển sang học chữ quốc ngữ. Bước vào đời với vai trò một thầy giáo làng dạy chữ Hán, ông có cơ hội đi sâu vào thực tế, thấu hiểu tận cùng cuộc sống cơ cực, lầm than của người nông dân dưới ách thực dân. Tuy nhiên, đồng lương ít ỏi của nghề “thầy đồ” không đủ trang trải cuộc sống, buộc ông phải lặn lội xuống Sài Gòn làm nghề kéo xe. Chính tại môi trường lao động lam lũ này, khi chứng kiến và trực tiếp trải qua cảnh sống khốn cùng của tầng lớp dưới đáy xã hội, lòng căm thù bè lũ xâm lược cùng đám tay sai trong ông càng thêm sâu sắc, thổi bùng lên ý chí dấn thân cứu nước.
Con đường hoạt động cách mạng của Võ Văn Tần bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 1924-1925 khi ông tham gia và hoạt động tích cực trong tổ chức “Hội kín Võ An Ninh”. Qua thực tiễn đấu tranh, bằng nhãn quan chính trị sắc bén, đến cuối năm 1929, ông nhận ra những hạn chế mang tính thời cuộc của tổ chức này. Để tìm kiếm một con đường đúng đắn hơn, ông cùng một số hội viên tiến bộ đã quyết định gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng, tổ chức sau này đổi tên thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Với năng lực lãnh đạo xuất sắc, ông vinh dự được giao trọng trách làm Bí thư Chi bộ Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đầu tiên tại quận Thủ Đức, và sau đó tiếp tục giữ chức Bí thư khi Quận ủy Đức Hòa được thành lập.
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với phong trào đấu tranh ngày 4-6-1930. Nhằm phối hợp với giai cấp công nhân và biểu dương lực lượng quần chúng, Liên tỉnh ủy đã phát động cuộc đấu tranh của nông dân trên quy mô lớn khắp hai tỉnh Gia Định và Chợ Lớn. Tại mặt trận Đức Hòa, quần chúng nhân dân rầm rộ tiến về quận lỵ theo ba ngả, trong đó đồng chí Võ Văn Tần trực tiếp phụ trách cánh quân hướng từ Bầu Trai xuống. Khi bị kẻ thù đàn áp đẫm máu, ông đã bình tĩnh, kiên cường đứng mũi chịu sào, lãnh đạo nhân dân chống trả quyết liệt. Dù cuộc biểu tình bị khủng bố gay gắt và bản thân ông bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt, Võ Văn Tần vẫn không hề chùn bước.
Giai đoạn sau đó đánh dấu sự thăng tiến về uy tín và trách nhiệm của ông trong tổ chức Đảng. Đầu năm 1931, ông được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn, và đến năm 1932 tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Gia Định. Trên cương vị mới, ông dồn nhiều tâm huyết cho công tác tuyên truyền, giáo dục, củng cố cơ sở quần chúng, đồng thời cho xuất bản tờ báo “Lao Động” làm vũ khí sắc bén để thức tỉnh các tầng lớp nhân dân. Nhờ những đóng góp to lớn đó, năm 1937, ông được cử giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam kỳ và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự chèo lái của Xứ ủy mà đứng đầu là đồng chí Võ Văn Tần, phong trào cách mạng tại Sài Gòn và các tỉnh Nam kỳ đã phát triển vô cùng mạnh mẽ, đồng bộ; bản thân ông chính là “linh hồn”, là ngọn cờ tập hợp của phong trào nơi đây.
Giữa lúc phong trào đang sục sôi, ngày 14-7-1940, đồng chí Võ Văn Tần bất ngờ bị địch bắt khi đang họp tại một cơ sở bí mật của Đảng ở xã Tân Thới Trung (Hóc Môn). Nhận diện được ông là cán bộ cao cấp của Đảng, thực dân Pháp lập tức đưa ông về giam cầm tại bốt Catina khét tiếng. Suốt gần một năm trời ròng rã, kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn đê hèn, từ dụ dỗ mua chuộc đến những đòn tra tấn dã man khiến ông nhiều lần “chết đi sống lại”, hòng tìm ra manh mối các cơ sở Đảng. Thế nhưng, tất cả đều thất bại trước khí tiết kiên trung của người cộng sản. Không thể khuất phục được ý chí của ông, thực dân Pháp đã hèn hạ đưa ông ra tòa án binh, lấy cớ ông phải “chịu trách nhiệm về mặt tinh thần” cho cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ để tuyên án tử hình. Vào lúc 7 giờ sáng ngày 28-8-1941, đồng chí Võ Văn Tần đã anh dũng hy sinh trước họng súng quân thù tại Khu giếng nước Hóc Môn, cùng các đồng chí kiên trung khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Tiến.
Sự hy sinh của ông là một tổn thất lớn, và do điều kiện chiến tranh khốc liệt, ông không để lại một bức ảnh chân dung nào. Để lưu giữ hình bóng người con ưu tú, sau năm 1954, gia đình ông đã thuê người vẽ lại chân dung ông qua trí nhớ. Bức họa bằng sơn dầu, kích thước 30x40cm với khung gỗ màu nâu này sau đó đã được người thân và các đồng chí cùng thời công nhận là rất chân thực, lột tả được thần thái cương nghị, lối sống giản dị và tấm lòng kiên trung của người Bí thư Xứ ủy. Tác phẩm lịch sử vô giá mang số ký hiệu 5124/ ĐD 459 này đã được gia đình hiến tặng và hiện đang được lưu giữ cẩn trọng tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Di sản của đồng chí Võ Văn Tần vẫn luôn sống mãi cùng non sông đất nước. Tên tuổi của ông đã được trân trọng đặt cho nhiều con đường lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh và khắp các tỉnh thành. Ngay trên mảnh đất quê hương Long An, tên ông không chỉ hiện diện ở trung tâm thành phố Tân An mà tại huyện Đức Hòa – nơi in dấu trận đánh oanh liệt năm xưa – một công viên văn hóa-lịch sử và một ngôi trường khang trang cũng vinh dự mang tên ông. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng Võ Văn Tần mãi mãi là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, là nguồn động lực tinh thần to lớn để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau noi theo, cùng chung tay cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.



