anh hùng Chu Văn Đạt
Chu Văn Mùi (sinh năm 1929) là Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, người chiến sĩ thông tin vô tuyến điện huyền thoại – người đã giữ vững "mạch máu" liên lạc thông suốt giữa lòng chảo bom đạn khốc liệt tại trận địa đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.Tiểu sử bản thânNăm sinh & Quê quán: Sinh năm 1929 tại thôn Hà Thượng, xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.Nhập ngũ: Tháng 7 năm 1949, thuộc biên chế Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong). Trước chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã dày dạn kinh nghiệm qua 7 chiến dịch lớn (Biên giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào...), từng làm từ anh nuôi, pháo thủ đến chiến sĩ xung kích.Chức vụ trong chiến dịch: Tiểu đội trưởng thông tin vô tuyến điện (máy điện thanh) thuộc Đại đội 127, Tiểu đoàn 38, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308.Những chiến công kiên cường của người lính thông tinTại mặt trận Điện Biên Phủ, vai trò của người lính thông tin mang ý nghĩa sống còn để điều phối pháo binh phối hợp với bộ binh. Ông đã lập nên những kỳ tích phi thường:Sửa máy vô tuyến bằng linh kiện máy bay địch: Tại trận phòng ngự đồi 311B, đơn vị của ông phải bám trụ dưới căn hầm sập ngập đầy nước mưa và bùn loãng. Khi chiếc máy vô tuyến điện bị hỏng nặng do dư chấn bom đạn, Chu Văn Mùi đã dũng cảm bò ra khỏi hầm, băng qua làn đạn tìm đến xác máy bay Pháp bị bắn rơi gần đó, tháo lấy phụ tùng linh kiện đem về thay thế, kịp thời khôi phục liên lạc với Sở chỉ huy.Làm "mắt thần" chỉ tọa độ pháo trên đỉnh đồi A1: Đêm ngày 30/3/1954, trận đánh đồi A1 diễn ra như một "cối xay thịt" khốc liệt. Khắp trận địa chìm trong khói đạn đen kịt, các đường dây điện thoại bị đứt nát, vô tuyến mất liên lạc hoàn toàn. Chu Văn Mùi cùng tổ đội được lệnh ôm chiếc máy vô tuyến nặng hơn 20kg băng lên đỉnh đồi để nối lại mạch máu thông tin.Một mình giữ đài, cứu trung đoàn trưởng: Trong đợt phản kích điên cuồng của quân Pháp, các chiến sĩ trong tổ thông tin và bộ binh xung quanh đều hy sinh hoặc bị thương nặng. Giữa đỉnh đồi chỉ còn lại một mình, ông vừa dùng súng r
Tiểu sử bản thân
Năm sinh & Quê quán: Sinh năm 1929 tại thôn Hà Thượng, xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Nhập ngũ: Tháng 7 năm 1949, thuộc biên chế Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong). Trước chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã dày dạn kinh nghiệm qua 7 chiến dịch lớn (Biên giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào...), từng làm từ anh nuôi, pháo thủ đến chiến sĩ xung kích.
Chức vụ trong chiến dịch: Tiểu đội trưởng thông tin vô tuyến điện (máy điện thanh) thuộc Đại đội 127, Tiểu đoàn 38, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308.
Những chiến công kiên cường của người lính thông tin
Tại mặt trận Điện Biên Phủ, vai trò của người lính thông tin mang ý nghĩa sống còn để điều phối pháo binh phối hợp với bộ binh. Ông đã lập nên những kỳ tích phi thường:
Sửa máy vô tuyến bằng linh kiện máy bay địch: Tại trận phòng ngự đồi 311B, đơn vị của ông phải bám trụ dưới căn hầm sập ngập đầy nước mưa và bùn loãng. Khi chiếc máy vô tuyến điện bị hỏng nặng do dư chấn bom đạn, Chu Văn Mùi đã dũng cảm bò ra khỏi hầm, băng qua làn đạn tìm đến xác máy bay Pháp bị bắn rơi gần đó, tháo lấy phụ tùng linh kiện đem về thay thế, kịp thời khôi phục liên lạc với Sở chỉ huy.
Làm "mắt thần" chỉ tọa độ pháo trên đỉnh đồi A1: Đêm ngày 30/3/1954, trận đánh đồi A1 diễn ra như một "cối xay thịt" khốc liệt. Khắp trận địa chìm trong khói đạn đen kịt, các đường dây điện thoại bị đứt nát, vô tuyến mất liên lạc hoàn toàn. Chu Văn Mùi cùng tổ đội được lệnh ôm chiếc máy vô tuyến nặng hơn 20kg băng lên đỉnh đồi để nối lại mạch máu thông tin.
Một mình giữ đài, cứu trung đoàn trưởng: Trong đợt phản kích điên cuồng của quân Pháp, các chiến sĩ trong tổ thông tin và bộ binh xung quanh đều hy sinh hoặc bị thương nặng. Giữa đỉnh đồi chỉ còn lại một mình, ông vừa dùng súng rifle đánh lui bộ binh địch tiến công vào hầm, vừa kiên cường ôm máy, gào to vào máy vô tuyến để chỉ chính xác từng tọa độ hỏa lực cho pháo binh ta từ xa dập thẳng vào đội hình quân Pháp. Giữa trận đánh, ông còn mưu trí cõng Trung đoàn trưởng Nguyễn Hùng Sinh khi đó đang bị thương nặng ra khỏi vùng nguy hiểm một cách an toàn.
Tôn vinh và Khen thưởng
Với những đóng góp đặc biệt giữ vững thông tin liên lạc quyết định thắng lợi trên đồi A1, ngày 31/8/1955, ông vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và trao tặng Huân chương Quân công hạng Ba.
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở các mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, Quảng Trị và Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975 lịch sử, nghỉ hưu với quân hàm Đại tá



