ANH HÙNG ĐÈO VĂN KHỐ
ANH HÙNG ĐÈO VĂN KHỐ
ANH HÙNG ĐÈO VĂN KHỔ
Đèo Văn Khổ, sinh năm 1937, dân tộc Thái, quê ở xã Chiềng La, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là tiểu đội trưởng tiểu đội 2, tiểu đoàn 51, Quân khu Tây Bắc, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đèo Văn Khổ xuất thân trong gia đình bần nông, ở một xã có phong trào cách mạng cao, hồi kháng chiến chống Pháp là vùng cơ sở của cán bộ và bộ đội đi về hoạt động trong thời kỳ địch tạm chiếm. Quê hương đồng chí bị địch chà đi xát lại nhiều lần, nhưng chúng không sao dập tắt được lòng yêu nước của đồng bào. Truyền thống quật cường bất khuất đó của địa phương đã thúc giục Đèo Văn Khổ cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.
Tháng 4 năm 1962, Đèo Văn Khổ nhập ngũ. Sau những năm rèn luyện gian khổ và tiểu phỉ ở Tây Bắc, năm 1965 đồng chí được cử vào quân tình nguyện chiến đấu ở chiến trường Lào.
Trong 2 năm 1965, 1966 Đèo Văn Khổ đã tham gia 6 trận chiến đấu, trận nào cũng nêu cao tinh thần ngoan cường, dũng cảm, kiên quyết đánh địch đến cùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Trong trận phòng ngự Mường Ngàn, Đèo Văn Khổ đã cùng trung đội phó và 3 chiến sĩ nhận nhiệm vụ phòng ngự chốt giữ mỏm 1 Phu-cút, phối hợp với sáu đồng chí bạn Lào. Yêu cầu của trên là phải giữ vững mỏm 1 làm bàn đạp cho chủ lực vận động tới phản công chiếm lại mỏm 2 và mỏm 3 bị mất ngày 15 tháng 3 năm 1966. Quân địch sau khi đã chiếm được hai mỏm (mỏm 2 và 3) cũng dốc sức cố chiếm nốt toàn bộ Phu-cút, do đó cuộc tranh chấp mỏm 1 rất ác liệt. Địch tập trung pháo, ngày đêm bắn phá, ngoài ra còn huy động 8 máy bay oanh tạc, mỗi ngày bắn phá vào mỏm 1 từ 6 đến 8 lần, kết hợp với nhiều đợt tiến công dữ dội bằng lực lượng bộ binh. Mặt đồi nhiều chỗ bị san bằng, công sự và chiến hào nhiều đoạn bị phá hỏng, cỏ cây bị đốt trụi. Tính ra mỗi mét vuông có 60 quả bom, đạn đại bác, rốc-két bắn vào. Lực lượng phòng ngự của ta đã bị thương vong một số.
Ngày 18 tháng 3 năm 1966, địch lại tổ chức nhiều đợt tiến công lên, nhưng đều bị đánh bật. Trong các đợt chiến đấu giằng co ác liệt với địch, đồng chí luôn luôn là tấm gương chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, cổ vũ mọi người. Mỗi lúc gay go, Đèo Văn Khổ thường tranh thủ đến gặp từng người động viên, giữ vững quyết tâm và bàn kế hoạch kiên quyết giữ vững trận địa. Sau mỗi đợt đánh lui quân địch, đồng chí lại cùng bộ đội bạn kịp thời rút kinh nghiệm, đề ra kế hoạch tác chiến mới, rồi cùng nhau sửa công sự, chuẩn bị cho đợt chiến đấu tiếp sau.
Ngày 19 tháng 3 năm 1966, địch lại tập trung phi pháo bắn phá dữ dội trận địa ta. Hầu hết anh em đều bị ù tai, chóng mặt, choáng váng vì bom đạn địch. Các hỏa lực quan trọng trên trận địa như súng cối, đại liên, ĐKZ đều bị phá hủy; lực lượng ta chỉ còn lại 2 người: Đèo Văn Khổ và 1 chiến sĩ nữa với 1 trọng liên, 1 tiểu liên, phối hợp với 4 người bên lực lượng bạn còn lại. Thấy hỏa lực ta yếu, bộ binh địch mở cuộc tiến công quyết liệt, liều chết xông lên và chúng đã chiếm được một đoạn chiến hào làm bàn đạp. Kiên quyết giữ vững bằng được trận địa, Đèo Văn Khổ mưu trí, anh dũng và linh hoạt, vừa đánh vừa hô nghi binh, cổ vũ tinh thần đồng đội, vừa bán hướng này, vừa cơ động nhanh như sóc sang hướng khác, áp đảo tinh thần địch. Khẩu súng trong tay đồng chí rung lên dữ dội, trút đạn vào quân địch. Hoảng sợ trước sức tiến công mãnh liệt của Đèo Văn Khổ và hoang mang, tưởng lực lượng ta chiếm giữ trận địa còn nhiều, địch vội bỏ chạy tán loạn, rút khỏi chiến hào, bỏ lại 7 xác chết cùng một số vũ khí. Vừa lúc đó, lực lượng chủ lực của ta đã kịp vận động đến, phản công chiếm lại toàn bộ Phu-cút ngày 20 tháng 3 năm 1966.
Ngoài tinh thần kiên quyết chiến đấu, dũng cảm, mưu trí, Đèo Văn Khổ còn gương mẫu, tận tụy trong công tác, có tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, khiêm tốn, đoàn kết với bạn, dìu dắt nhau cũng lập công trong chiến đấu. Đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 bằng khen, 3 giấy khen.
Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Đèo Văn Khổ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


