Anh hùng Giàng A Dê
Anh hùng Giàng A Dê
Nếu Đội trưởng Giàng A Lử là bộ não chỉ huy, Giàng Trừ Tủa và Cứ Giàng Sinh là nanh vuốt chiến đấu thì Giàng A Dê chính là mạch máu nối liền Đội du kích Lao Chải với thế giới bên ngoài. Gia nhập đội du kích năm 1948 khi mới vừa tròn mười tám tuổi, Ông Dê là người trẻ nhất nhưng sở hữu thứ vũ khí đáng sợ không kém súng kíp hay cung độc: đó là đôi chân chạy nhanh như hoẵng rừng và một trí nhớ siêu phàm.
Sự hòa quyện với sương mù: Người Mông Lao Chải thường bảo nhau, Dê không đi bộ, cậu ấy lướt đi trong mương sương quánh đặc. Ở độ cao hơn 2.000m nơi mây mù che khuất tầm nhìn quá ba sải tay. Ông Dê vẫn có thể chạy phăm phăm qua những bờ ruộng bậc thang hẹp bằng một bàn chân mà không bao giờ trượt ngã.
Bản đồ sống trong đầu: Ông Dê không bao giờ mang theo bản vẽ hay thư từ bằng giấy. Mọi mật lệnh của Ban cán sự Đảng tỉnh Yên Bái truyền lên hay tin tức tiễn thám địch, cậu đều học thuộc lòng rồi hóa nó thành những giai điệu vô nghĩa nếu chẳng may bị giặc bắt.
Mùa thu năm 1951, quân Pháp mở chiến dịch càn quét lớn nhằm chặt đứt hoàn toàn sợi dây liên lạc giữa du kích Mù Cang Chải và bộ dội chủ lực dưới thung lũng Nghĩa Lộ. Chúng bủa vây mọi ngả đường, lập các hàng rào dây gai và chốt chặn dày đặc dọc theo chân đèo Khau Phạ.
Giữa đêm đen lạnh buốt, Đội du kích Lao Chải bất ngờ bị một đại đội lính cơ động Pháp siết chặt vòng vây. Kho đạn tự chế của Giàng Trừ Tủa đã cạn, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Đội trưởng Giàng A Lử gọi Dê đến, vỗ mạnh vào vai chàng trai trẻ: "Dê à, đôi chân của mày phải cứu anh em thôi. Hãy xuống núi tìm đại đội 54 bốt Nghĩa Lộ, báo họ đánh úp sau lưng giặc. Chậm một bình minh là bản ta thành tro tàn!".
Giàng A Dê gật đầu, thắt chặt chiếc thắt lưng lanh nhuộm chàm, gác cây dao mèo sau lưng rồi lao vút vào màn đêm.
Chuyến đi ấy là một cuộc đua sinh tử nghẹt thở. Để tránh các chốt gác, Dê không đi theo lối mòn trâu đi mà chọn những vách đá tai mèo dựng đứng, nơi ngay cả sơn dương cũng phải chùn bước. Sương mù ban đêm quánh đặc như sữa, cái lạnh làm tê dại hai bờ vai trần.
Đến đoạn eo núi thắt nút cổ chai, một toán lính dõng bất ngờ rọi đèn pin loang loáng, tiếng chó béc-giê sủa vang động vách đá. Dê áp chặt mình vào một hốc đá tai mèo, nín thở đến mức nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch. Con chó giặc đánh hơi thấy mùi lạ, lao đến gầm gừ cách chỗ cậu ngồi chưa đầy hai sải tay. Trong khoảnh khắc sinh tử, Dê khéo léo giả tiếng chim cú mèo kêu lên thảm thiết rồi ném một hòn đá xuống vực sâu hướng ngược lại. Toán lính tưởng thú rừng liền kéo con chó đuổi theo. Chớp thời cơ, "Đứa con của gió" bật dậy, lao như một mũi tên xuyên qua màn sương mù mịt dày đặc, bỏ lại họng súng giặc phía sau.
Ròng rã suốt một đêm băng rừng vượt thác, hai bàn chân rớm máu vì đá dăm cào xé, Giàng A Dê đã tiếp cận được vị trí của bộ đội chủ lực đúng lúc sương mai vừa tan. Mật lệnh được truyền đi chính xác từng chữ.
Ngay khi ánh mặt trời đầu tiên nhuộm vàng những triền ruộng bậc thang Lao Chải, đại đội lính Pháp đang hăng máu chuẩn bị nổ súng vào bản thì bất ngờ bị bộ đội chủ lực kết hợp với du kích đánh vỗ mặt từ hai phía sau lưng. Bị đánh úp bất ngờ ngay tại địa hình hiểm trở, quân Pháp đại bại, dẫm đạp lên nhau tháo chạy nhục nhã xuống thung lũng, giải vây hoàn toàn cho căn cứ du kích.
Sau ngày giải phóng Tây Bắc, Giàng A Dê không còn phải chạy đua với súng đạn và sương đêm để chuyển mật thư. Nhưng đôi chân huyền thoại của ông vẫn chưa một ngày ngơi nghỉ.
Người chiến sĩ giao liên năm xưa lại tự nguyện khoác lên vai chiếc gùi da, trở thành người bưu tá đầu tiên của xã Lao Chải. Ông lại tiếp tục băng rừng, vượt qua những nấc thang ruộng bậc thang ngút ngàn để mang những phong thư, những cuốn sách chữ Mông, chữ phổ thông về cho lũ trẻ trong bản. Mỗi khi vượt qua những khúc quanh mờ sương của đèo Khau Phạ, ông lại mỉm cười nhìn những vạt hoa sơn tra nở trắng, tự hào vì đôi chân của mình đã góp phần giữ trọn vẹn sự bình yên và tự do cho đỉnh trời quê hương.



