ANH HÙNG HỒ VĂN BIỂN – LÃO DU KÍCH KIÊN CƯỜNG GIỮ LÀNG, ĐÁNH GIẶC BẰNG Ý CHÍ VÀ LÒNG DŨNG CẢM
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Văn Biển, tên thật Nguyễn Cây, còn được gọi là Xã Cây, sinh năm 1908 tại làng Hà Quảng, xã Điện Dương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc phường Điện Dương, thành phố Đà Nẵng. Suốt hai cuộc kháng chiến, dù tuổi cao, đồng chí vẫn kiên cường bám trụ, trực tiếp tổ chức đấu tranh, xây dựng làng chiến đấu, vận chuyển lương thực, vũ khí và tham gia nhiều trận đánh bằng vũ khí tự tạo. Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng du kích Điện Dương lập nhiều chiến công, tiêu diệt hàng chục lính Mỹ, phá hủy xe bọc thép và vận động binh lính địch trở về với cách mạng. Ngày 20-12-1969, đồng chí được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Sinh ra trong một gia đình ngư dân nghèo ở vùng biển Hà Quảng, cuộc đời Hồ Văn Biển gắn với những biến động dữ dội của quê hương. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí tham gia hoạt động cùng lực lượng du kích địa phương. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, nhiều cán bộ, chiến sĩ tập kết ra miền Bắc, nhưng Hồ Văn Biển ở lại, tiếp tục bám quê hương, xây dựng phong trào và giữ gìn cơ sở cách mạng trong điều kiện địch kiểm soát gắt gao.
Bước vào những năm 1960, khi chính quyền Mỹ - ngụy đẩy mạnh chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược, Hồ Văn Biển nhiều lần trực tiếp dẫn đầu nhân dân đấu tranh. Có tới 16 lần đồng chí tổ chức, chỉ huy quần chúng đối mặt với địch, đấu tranh chống càn quét, phá ấp chiến lược, phản đối bắt thanh niên đi lính. Trong một lần đấu tranh binh vận, đồng chí bí mật bò sát vào đồn lính Nam Triều Tiên để rải hàng nghìn tờ truyền đơn, góp phần tác động đến tinh thần binh lính đối phương.
Một cuộc đấu tranh tiêu biểu diễn ra tại ngã ba cầu Phước Trạch. Khi đoàn người dân từ Tân Khai, Hà My, Hà Quảng, chợ Cầu và nhiều nơi tập trung đấu tranh, địch nổ súng khiến nhiều người bị thương. Trước tình thế nguy hiểm, Hồ Văn Biển vẫn bình tĩnh động viên bà con giữ vững đội hình. Cuộc đấu tranh kéo dài từ sáng đến chiều, buộc quận trưởng Hiếu Nhơn phải chấp thuận yêu cầu của nhân dân, trong đó có việc không tiếp tục bắn pháo vào làng xóm và bồi thường cho những người bị thiệt mạng.
Không chỉ trực tiếp đấu tranh chính trị, người du kích cao tuổi còn tích cực tham gia dân công hỏa tuyến. Đồng chí vận chuyển thương binh, lương thực, thuốc men, vũ khí từ vùng đồng bằng lên chiến khu Quảng Đà, thậm chí ra tận Trị - Thiên. Có những chuyến kéo dài 3-4 tháng, mỗi lần mang theo hàng chục kilôgam hàng hóa, nhưng Hồ Văn Biển vẫn bền bỉ hoàn thành nhiệm vụ. Sự dẻo dai và tinh thần trách nhiệm của đồng chí khiến nhiều cán bộ, chiến sĩ trẻ phải khâm phục.
Năm 1965, khi quân Mỹ trực tiếp đổ bộ vào Đà Nẵng và quân Nam Triều Tiên mở rộng các cuộc càn quét, Điện Dương trở thành địa bàn chiến đấu ác liệt. Hồ Văn Biển cùng du kích và nhân dân địa phương kiên quyết bám đất, xây dựng làng chiến đấu, đào công sự, giao thông hào, hào chống xe tăng và tận dụng địa hình cồn cát, lũy tre, bờ ruộng, sông ngòi để tạo thế trận chống địch.
Với phương châm “miệng nói, tay làm”, đồng chí trực tiếp cùng nhân dân cải tạo địa hình, biến những khu dồn dân trước đây thành những cụm làng chiến đấu liên hoàn. Khi vũ khí còn thiếu thốn, Hồ Văn Biển cùng du kích tận dụng tre, sắt thép, đinh và những vật liệu sẵn có để chế tạo chông, mìn và các loại vũ khí thô sơ. Những thứ tưởng như nhỏ bé ấy, khi được đặt đúng vị trí và sử dụng đúng thời cơ, đã trở thành vũ khí lợi hại chống lại những cuộc càn quét của đối phương.
Ngày 20-2-1968, quân địch tiến vào xã và rơi vào trận địa chông do Hồ Văn Biển tổ chức, khiến 5 tên chết tại chỗ, số còn lại hoảng loạn tháo chạy. Chỉ hơn một tháng sau, ngày 23-3-1968, đồng chí trực tiếp chôn 3 quả mìn tự tạo, phá hủy 2 xe bọc thép và tiêu diệt nhiều tên địch. Những trận đánh ấy góp phần khẳng định hiệu quả của cách đánh dựa vào địa hình, vũ khí tự tạo và sức mạnh của chiến tranh nhân dân.
Trong hai ngày 23-8 và 3-9-1966, Hồ Văn Biển cùng du kích địa phương tổ chức những trận tập kích táo bạo vào khu vực đóng quân dã ngoại của quân Mỹ, tiêu diệt 34 tên, làm bị thương 4 tên và phá hủy vũ khí của một trung đội. Tính chung trong những năm chiến đấu, đồng chí cùng du kích đã tiêu diệt 67 lính Mỹ, phá hủy nhiều xe bọc thép, làm bị thương hàng chục tên địch, rải hàng nghìn truyền đơn, vận động một số binh lính đối phương bỏ hàng ngũ trở về với cách mạng.
Tại Đại hội Chiến sĩ thi đua và Dũng sĩ diệt Mỹ tỉnh Quảng Đà năm 1968, Hồ Văn Biển được tuyên dương là “Lá cờ đầu trong hàng ngũ du kích già của tỉnh”, đồng thời được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Ngày 20-12-1969, Chủ tịch nước phong tặng đồng chí danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sau ngày đất nước thống nhất, người Anh hùng lại bắt tay vào một cuộc chiến mới: xóa đói, giảm nghèo, khôi phục quê hương. Trên cương vị Trưởng ban Thủy sản xã, Hồ Văn Biển đi đến từng làng cá, từng hộ ngư dân để tìm hiểu cuộc sống, chia sẻ kinh nghiệm và vận động bà con đóng tàu có công suất lớn, vươn khơi đánh bắt, phát triển nuôi trồng và chế biến thủy sản. Với đồng chí, chiến đấu vì nhân dân không chỉ là cầm súng đánh giặc mà còn là góp sức để người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn sau chiến tranh.
Ngày 5-3-1990, Anh hùng Hồ Văn Biển qua đời, hưởng thọ 82 tuổi. Tên tuổi và những đóng góp của đồng chí vẫn được quê hương ghi nhớ. Trường Tiểu học Hồ Văn Biển tại địa phương được đặt theo tên người Anh hùng như một cách tri ân đối với một cuộc đời đã dành trọn cho quê hương.
Từ người ngư dân nghèo đến người chỉ huy du kích, từ những cuộc đấu tranh chính trị đến những trận đánh bằng chông, mìn tự tạo, Hồ Văn Biển đã trở thành biểu tượng đặc biệt của ý chí bám đất, bám dân và tinh thần chiến đấu không khuất phục. Ở tuổi ngoài 60, đồng chí vẫn trực tiếp cầm súng, làm dân công, xây dựng làng chiến đấu và góp sức đánh Mỹ. Câu chuyện về người Anh hùng ấy vì thế không chỉ là một trang sử hào hùng của Điện Dương mà còn là minh chứng cho sức mạnh của lòng dân trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.


