Anh hùng Lao động

Anh hùng lao động (10)

Câu chuyện thời hoa lửa: Đồng chí Bùi Quang Thận- người cắm lá cờ giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập “Nếu niềm tự hào có hình dáng thì đó là lá cờ đỏ sao vàng Nếu lòng yêu nước có âm thanh thì nó là tiếng Quốc Ca vang danh Nếu lịch sử có hương thơm thì đó là hương nhang khói, trong những ngày tưởng nhớ Dầu rằng bao nhiêu thế hệ mai sau thì tình yêu nước cũng chẳng bao giờ phai nhạt Vì trong tim mỗi người vẫn có một lá cờ phấp phới được tung bay bởi niềm tin Việt Nam vững bền Nếu có kiếp sau vẫn mo

Thái Nguyên14/04/2026Nguyễn Thị Thư (Trường Ngoại Ngữ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện thời hoa lửa: Đồng chí Bùi Quang Thận- người cắm lá cờ giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập

“Nếu niềm tự hào có hình dáng thì đó là lá cờ đỏ sao vàng

Nếu lòng yêu nước có âm thanh thì nó là tiếng Quốc Ca vang danh

Nếu lịch sử có hương thơm thì đó là hương nhang khói, trong những ngày tưởng nhớ

Dầu rằng bao nhiêu thế hệ mai sau thì tình yêu nước cũng chẳng bao giờ phai nhạt

Vì trong tim mỗi người vẫn có một lá cờ phấp phới được tung bay bởi niềm tin Việt Nam vững bền

Nếu có kiếp sau vẫn mong là người Việt Nam, dù trải qua bao nhiêu kiếp người vẫn mong là người Việt Nam.”

Lịch sử dân tộc Việt Nam là bản anh hùng ca được viết nên bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của các thế hệ cha anh. Trong những năm tháng “hoa lửa” ấy, có những con người đã trở thành biểu tượng cho ý chí và khát vọng thống nhất non sông. Một trong những người anh hùng tiêu biểu ấy chính là Bùi Quang Thận – người chiến sĩ đã cắm lá cờ chiến thắng trên nóc Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975.

Bùi Quang Thận sinh ngày 10/10/1948. Ông sinh tại xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (nay là xã Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên). Khi tròn 18 tuổi vào năm 1966, ông nhập ngũ, từ năm 1966 đến năm 1975 ông trưởng thành từ pháo thủ đến đại đội trưởng Đại đội 8, Trung đoàn tăng thiết giáp 202. Ông tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, là đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2 (đơn vị đảm nhiệm đánh chiếm Dinh Độc Lập).

Đại tá Bùi Quang Thận

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông chỉ huy xe tăng T-54 mang số 843 đi đầu đội hình tiến vào Dinh Độc Lập. Khi xe tăng 843 của ông bị kẹt lại tại cổng phụ và xe tăng 390 của Vũ Đăng Toàn húc đổ cổng chính, ông đã nhảy xuống, mang cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cắm trên nóc Dinh Độc Lập. Đồng chí Bùi Quang Thận kể: “Khi lên đến nơi, tôi hạ cờ ngụy xuống. Nhưng do cờ được buộc chắc chắn nên phải cắn bằng răng, sau đó treo cờ giải phóng vào. Kéo cờ mình lên, tôi lại hạ xuống, đưa tay xem đồng hồ. Tôi thận trọng ghi: 11 giờ 30 ngày 30-4 và ký tên Thận lên góc lá cờ Tổ quốc. Song, kéo cờ lên lại. Tôi quay đầu bước đi, rồi lại quay lại nhặt lá cờ của ngụy với ý định làm vật kỷ niệm trong cuộc đời chiến đấu. Nhưng lá cờ ấy, sau này tôi đã trao lại cho bảo tàng vì nghĩ làm như thế sẽ có ý nghĩa hơn. Sự kiện cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập của tôi thì lịch sử đã ghi nhận. Đây là hành động tất yếu của người chiến sĩ ở giây phút lịch sử thiêng liêng. Bất kỳ ai có được giây phút ấy cũng không thể làm khác, việc làm ấy trước hết thuộc về lịch sử dân tộc.”

Hình ảnh lá cờ tung bay giữa bầu trời tháng Tư năm ấy đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của ngày đất nước thống nhất. Đó không chỉ là chiến thắng của một trận đánh, mà là chiến thắng của ý chí, của niềm tin và của khát vọng hòa bình. Khoảnh khắc ấy đã khép lại hơn hai mươi năm chia cắt và mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục cống hiến trong quân đội, sống giản dị và khiêm nhường như bao người lính khác. Ông không coi mình là người hùng, mà chỉ nhận mình là một chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ. Chính sự bình dị ấy càng làm sáng lên phẩm chất cao đẹp của người lính Cụ Hồ.

Ngày nay, khi nhắc lại câu chuyện về đồng chí Bùi Quang Thận, chúng ta không chỉ nhớ đến một hành động lịch sử, mà còn nhớ đến cả một thế hệ thanh niên đã sống trọn vẹn cho lý tưởng cách mạng. Câu chuyện ấy nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, sống có trách nhiệm và không bao giờ được phép lãng quên quá khứ. Bởi lẽ, lịch sử được viết bằng máu. Và để không phải viết lại bằng máu thêm một lần nào nữa, mỗi chúng ta phải biết gìn giữ, tiếp nối và làm rạng danh truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn