Anh hùng Lao động

ANH HÙNG LAO ĐỘNG LÂM QUANG TỈNH (1935 - 2007)

Với những sáng kiến kỹ thuật liên tiếp có hiệu quả đó, đồng chí Lâm Quang Tỉnh được Nông trường Cửu Long và Bộ Nông trường bầu là Chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc năm 1959 - 1960. Năm 1960, Chiến sĩ thi đua Lâm Quang Tỉnh được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. Bộ Nông trường phát động phong trào "Học tập và thi đua cùng Lâm Quang Tỉnh" trong toàn thể các nông trường xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Lâm Quang Tỉnh là đại biểu chính thức của ngành Nông trường tham dự Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ

Vĩnh Long24/06/2026BCH xã Đoàn Tân Hòa (Xã đoàn Tân Hòa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Lâm Quang Tỉnh có tên thường dùng là Ba Tỉnh, sinh năm Ất Hợi - 1935, tại làng Long Đức, tổng Trà Nhiêu, quận Châu Thành (nay thuộc khu vực Phường Bốn thành phố Trà Vinh).

Đầu năm 1952, sau một thời gian được tuyên truyền giáo dục, đồng chí Lâm Quang Tinh trở thành cơ sở quần chúng của Ban An ninh thị xã, với nhiệm vụ là để mắt theo dõi hoạt động, canh gác của bọn lính canh nhà tù rồi báo lại với các anh. Những công việc tưởng giản đơn ấy đã góp phần không nhỏ vào cuộc phá khám Đông Thăng, giải thoát hơn 200 tù binh vào tháng 8/1952, nổi tiếng khắp miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp.

Cuộc phá khám thành công, bị địch phát hiện, đồng chí Lâm Quang Tỉnh thoát ly gia đình ra bưng biền tham gia kháng chiến. Ở tuổi 17 đầy hăng hái, Lâm Quang Tỉnh từ chối công tác tại Ban An ninh, mà tình nguyện vào bộ đội trực tiếp cầm súng đánh giặc. Trong hai năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Lâm Quang Tỉnh là chiến sĩ địa phương quân tỉnh Trà Vinh, cùng đơn vị tham gia nhiều trận chiến đấu khắp địa bàn các huyện thị trong tỉnh. Năm 1954, đồng chí Lâm Quang Tỉnh được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và được đề bạt làm cán bộ tiểu đội.

Tập kết ra Bắc theo tinh thần Hiệp định Genève, sau gần hai năm được tham gia các lớp học bổ túc vằn hóa, chính trị, đồng chí Lâm Quang Tinh cùng nhiều chiến sĩ trẻ từ miền Nam ra được quân đội tuyển chọn đưa đi đào tạo thành công nhân kỹ thuật ngành máy kéo và đưa về tham gia sản xuất tại Nông trường Cửu Long (tỉnh Hòa Bình).

Về Nông trường Cửu Long cũng là lúc đơn vị này nhận nhiệm vụ trồng săn (khoai mì) phủ xanh diện tích hàng ngàn hecta đôi trọc miền trung du Hòa Bình. Công việc thủ công vô cùng nặng nhọc đối với người công nhân bởi phải dùng cuốc đánh luông trên đât đồi sỏi đá nên năng suất lao động kém. Đã vậy, khi cặm hom mì xuông gặp khí hậu khắc nghiệt dễ bị khô cháy phần lộ thiên, buộc phải trồng đi trồng lại nhiều lần. Nhớ hồi kháng chiến, cùng đơn vị bộ đội giúp dân tăng gia sản xuất, đồng chí Lâm Quang Tính học được kỹ thuật trồng mì cặm hom ngang của bà con nông dân vùng giồng cát ven biển Mỹ Long, Cầu Ngang. Kỹ thuật trồng này, cây hom giống được cặm tạo thành góc khoảng 10 độ so với mặt đất, độ dài nằm dưới mặt đất chiếm đến hơn 80% so với phần nhô lên trên vừa ít bị chết cây do cháy nắng mà năng suất khi thu hoạch cao hơn gấp nhiều lần. Đồng chí Lâm Quang Tỉnh đề xuất với Đội lao động cho Tổ mình áp dụng thử nghiệm kỹ thuật trồng sắn hom ngang, vốn còn rất xa lạ với lối canh tác ngoài Bắc. Năm 1957, năng suất sắn trên phần diện tích áp dụng thử nghiệm kỹ thuật trồng mới của đồng chí Lâm Quang Tỉnh lên đến 10-12 tấn/ha, vượt trội so với bình quân năng suất chung thời đó và Tổ lao động của anh trở thành đơn vị thi đua xuất sắc của toàn Nông trường. Do vậy, năm 1958, kỹ thuật trồng săn hom ngang được áp dụng rộng rãi trên toàn Nông trường Cửu Long và một số nông trường khác trên miền trung du Bắc bộ.

Cũng năm 1957, Nông trường Cửu Long được trang bị một số máy cày phục vụ khâu làm đất. Tuy chỉ là những chiếc máy cày cũ kỹ, được sản xuất tại Liên Xô từ thập niên 1930 và tình trạng sử dụng chỉ còn khoảng 40 - 50% nhưng cũng đã là nguồn vốn vô cùng quí giá của nền nông nghiệp miền Bắc giai đoạn sau hòa bình lập lại. Chính người đảng viên công nhân máy kéo trẻ Lâm Quang Tỉnh có sáng kiến và đưa vào áp dụng thành công kỹ thuật cày hai chảo lớn cho hai luống đất cày úp vào nhau, tạo thành luống đôi rất thích hợp để trồng sắn, thay vì dùng cuốc đánh luống thủ công. Khi sáng kiến mới này của Lâm Quang Tinh được nhân rộng trên toàn nông trường đã "đưa năng suất lao động lên 30 đền 40 lân, chỉ tiêu qui định trông mỗi héc-ta đất hết 213 đông hạ xuông 66 đông, sản lượng thu hoạch từ 10 đền 12 tấn một héc-ta".

Từ những sáng kiên đó, năm 1958 - 1959, Đội lao động của đồng chí Lâm Quang Tỉnh được biêu dương là Đội dân đâu phong trào thi đua của Nông trường Cửu Long và Nông trường Cửu Long trở thành điển hình của phong trào thi đua lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc của Bộ Nông trường. Riêng công nhân kỹ thuật Lâm Quang Tỉnh là chiến sĩ thi đụa cập Bộ, được tặng Huy chương Chiến thắng hạng Nhất và được đề bạt làm Đội trưởng Đội máy kéo DT-54 của Nông trường Cửu Long, tỉnh Hòa Bình.

Đứng về góc độ kỹ thuật, máy cày Liên Xô hiệu DT-54 được thiết kế cho khâu làm đất trên những cánh đồng lúa mì bằng phẳng. Khi sang Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô áp dụng kỹ thuật cày đất đồi theo những đường thẳng từ chân đồi bên này lên tới đỉnh đồi rồi xuống phía chân đồi bên kia. Cứ thế cho đến khi toàn bộ quả đồi được cày xới. Kỹ thuật này tương đối dễ vận hành cho người công nhân nhưng lại rất lãng phí công lao động và nhiên liệu. Bởi vì diện tích chân đồi bao giờ cũng lớn hơn diện tích đỉnh đồi nếu cứ theo đường thẳng mà chạy để cày cho giáp diện tích chân đồi thì phần đỉnh đồi máy phải chạy không tải nhiều lần. Thêm vào đó, qua một niên vụ sản xuất, rảnh cày theo đường thẳng từ đỉnh đồi xuống khiến nước mưa chảy nhanh, không giữ được độ ẩm cũng như độ màu mỡ cho đất. Với tinh thần lao động quên mình góp phần xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, làm hậu phương lớn cho cả nước và với sự năng động, sáng tạo phi thường đồng chí Lâm Quang Tỉnh đã suy nghĩ và tự mình thử nghiệm kỹ thuật cày theo đường xoáy trôn ốc: máy được vận hành thành những đường ngang giáp một vòng chân đồi, rồi nâng dần theo chiều cao lên đến đỉnh đồi và khắc phục được cơ bản các khiếm khuyết so với kỹ thuật cày theo đường thẳng từ chân đồi lên đỉnh đồi như tiết kiệm được công lao động, nhiên liệu, giữ được độ ẩm và hạn chế đến mức thấp sự xói mòn, làm bạc màu đất trồng. Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi người công nhân kỹ thuật vận hành phải có sự tập trung cao độ cho công việc vì máy cày hoạt động luôn trong trạng thái nắm nghiêng, rất dễ lật nhào xuông vực, gây thiệt hại phương tiện của nhà nước lần tính mạng của người công nhân. Trong thực tế cồng việc, vừa làm vừa rút kinh nghiệm đông chí Lâm Quang Tỉnh dần dần hoàn thiện kỹ năng lái máy ở trạng thái nghiêng, giúp cho kỹ thuật cày xoáy trôn ôc có tốc độ và năng suất không thua kém so với kỹ thuật cày theo đường thăng trước đây. Kỹ thuật mới này đã đưa Nồng trường Cửu Long (Hòà Bình) trở thành đơn vị dẫn đầu trong thi đua phát huy sáng kiên kỹ thuật, năng cao năng suất, làm ra ngày càng nhiều lương thực, đảm bảo cơ bản cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa khắc phục được tình trạng thiếu đói sau chiến tranh.

Với những sáng kiến kỹ thuật liên tiếp có hiệu quả đó, đồng chí Lâm Quang Tỉnh được Nông trường Cửu Long và Bộ Nông trường bầu là Chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc năm 1959 - 1960. Năm 1960, Chiến sĩ thi đua Lâm Quang Tỉnh được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. Bộ Nông trường phát động phong trào "Học tập và thi đua cùng Lâm Quang Tỉnh" trong toàn thể các nông trường xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Lâm Quang Tỉnh là đại biểu chính thức của ngành Nông trường tham dự Đại hội Anh hùng - Chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc lần thứ III (5/1962). Tại Đại hội này, theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, công nhân kỹ thuật Lâm Quang Tỉnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lao động.

Năm 1964, Anh hùng Lao động Lâm Quang Tỉnh được Bộ Nông trường đưa đi đào tạo bậc đại học chuyên ngành Cơ khí nông nghiệp. Năm 1967, ông là Trưởng phòng Cơ khí Kỹ thuật và đến năm 1970 là Phó Giám đốc Nông trường Cửu Long (tỉnh Hòa Bình).

Sau ngày thống nhất đất nước, đồng chí Lâm Quang Tỉnh được chuyển về Nam tham gia tiếp thu thành phố Vũng Tàu. Ông đảm nhiệm cương vị Giám đốc Công ty Cơ khí Thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho đến ngày về hưu (1995).

Năm 2007, Anh hùng Lâm Quang Tỉnh chuyển về quê hương Trà Vinh an dưỡng tuổi già. Nhưng không lâu sau đó, vì một chứng bệnh hiểm nghèo, ông qua đời tại Phường 4, thị xã Trà Vinh, hưởng thọ 73 tuổi. /.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn