Anh hùng Lao động

ANH HÙNG LAO ĐỘNG_TRẦN ĐẠI NGHĨA

Đồng Tháp13/05/2026ĐOÀN KHOA SƯ PHẠM TOÁN - TIN (Đoàn Trường Đại học Đồng Tháp)8 lượt xem0 lượt chia sẻ

GIÁO SƯ, VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA - TRÍ THỨC YÊU NƯỚC NAM BỘ VỚI KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CHO TỔ QUỐC

1. Tuổi thơ không trọn vẹn

Tên khai sinh của ông là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13-9-1913 tại làng Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, nay là xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Ông được sinh ra trong gia đình nghèo, có truyền thống yêu nước và hiếu học, cha là cụ Phạm Quang Mùi dạy học ở tỉnh Vĩnh Long, mẹ là cụ bà Phạm Thị Diệu. Thuở nhỏ, Phạm Quang Lễ cũng có tuổi thơ êm đềm, hạnh phúc bên mái ấm gia đình cùng với cha, mẹ và chị gái Phạm Thị Nhẫn. Tuy nhiên, không được bao lâu, thì biến cố gia đình ập đến. Khi Phạm Quang Lễ được 7 tuổi, cha qua đời với lời trăn trối: “Lễ phải trở thành trụ cột của gia đình. Có má chăm lo dạy bảo, Lễ phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình để giúp ích cho đời”. Lời căn dặn ấy đã khắc sâu trong tâm trí của Phạm Quang Lễ đến suốt cuộc đời.

Nhận thấy không có khả năng tìm kế sinh nhai ở chốn thị thành nên mẹ và chị gái quyết định trở về quê làm nghề nông để kiếm tiền lo cho Phạm Quang Lễ ăn học. Một mình Phạm Quang Lễ phải ở lại Vĩnh Long để tiếp tục việc học hành. Mới 7 tuổi đầu, cậu bé vừa phải chịu nỗi đau mất cha, vừa phải chịu cảnh sống xa mẹ, xa chị và tự lập trong mọi hoạt động sinh hoạt, học tập. Có lần, vì quá nhớ mẹ, nhớ chị mà Phạm Quang Lễ đã đi bộ hơn hai mươi cây số dưới trời nắng gắt về nhà với lời phân trần đầy nước mắt: “Má ơi! Con nhớ má, nhớ chị quá, con chỉ định trốn về gặp má, gặp chị một lần thôi rồi mai con sẽ trở lại trường”.

2. Tinh thần ham học thành tài

Để có thể tiếp tục đi học, người chị gái là Phạm Thị Nhẫn đã phải nghỉ học để cùng mẹ nuôi em theo nghiệp đèn sách. Trong hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngay từ khi còn nhỏ, Phạm Quang Lễ đã nuôi chí phải đánh đuổi thực dân Pháp để cho dân mình bớt khổ.

Ở cấp bậc tiểu học, ông luôn phấn đấu học thật giỏi. Năm 1926, PhạmQuang Lễ thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho (College de Mytho), được nhận học bổng 4 năm học (1926 - 1930).

Phạm Quang Lễ (người ngồi hàng ghế đầu, góc bìa bên phải) chụp ảnh lưu niệm cùng các bạn học ở tỉnh Vĩnh Long tại Trường Collège De My Tho, niên khoá 1926 - 1930

Năm 1930, Phạm Quang Lễ thi đỗ vào Trường Petrus Ký (nay là Trường chuyên Lê Hồng Phong, Thành phố Hồ Chí Minh) và tiếp tục được học bổng liên tục 3 năm liền. Với nỗ lực vượt bậc, năm 1933, ông xuất sắc đỗ thủ khoa cả hai bằng tú tài: Tú tài Bản xứ và Tú tài Tây – một thành tích phi thường của một chàng trai thanh niên tỉnh lẻ, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Tuy nhiên, vì nhà nghèo Phạm Quang Lễ quyết định tạm thời dừng việc học để đi làm giúp mẹ, giúp chị và tiếp tục nuôi chí học cao hơn. Ngày 5-9-1935, Phạm Quang Lễ sang Pháp học đại học. Trong thời gian ở Pháp, ông đã học tại các trường Đại học Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris và nhận bằng tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học.

Với mong muốn nghiên cứu về vũ khí trong hoàn cảnh Chính phủ Pháp cấm người dân thuộc địa học tại các trường dạy nghề về vũ khí hay vào làm việc ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí, Phạm Quang Lễ chỉ có thể tự mò mẫm và bí mật học hỏi, sưu tầm tài liệu về các loại vũ khí trong quá trình học tập tại các trường đại học ở Pháp. Ngoài ra, ông còn tự học tiếng Đức để đọc các tài liệu của Đức từ nguyên bản. Năm 1939, Phạm Quang Lễ làm việc tại Hãng điện khí Thomson rồi Viện Nghiên cứu chế tạo máy bay và vũ khí của Pháp. Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong Xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí, kỹ thuật hàng không. Sau đó ông trở lại Pháp làm việc ở một hãng nghiên cứu chế tạo máy bay.

3. Tri thức yêu nước dấn thân vì Tổ quốc

Tư tưởng yêu nước của Phạm Quang Lễ được hình thành từ rất sớm, bắt đầu từ những phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp tại Sài Gòn và Nam Bộ. Những phong trào này đã tác động đến tình cảm và quyết tâm, quyết chí học hành để giúp dân, giúp nước. Được hun đúc bằng ý chí của một trí thức yêu nước, được gặp và theo Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp về nước, ý thức dân tộc và tình cảm yêu nước của Phạm Quang Lễ càng nồng nàn, sâu sắc. Ngoài những đóng góp cho dân tộc trong hai cuộc kháng chiến, ông còn có đóng góp rất lớn trong việc xây dựng nền khoa học trẻ tuổi của Việt Nam.

Trong những tháng ngày Phạm Quang Lễ tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính sự giản dị, lối làm việc khoa học, nhân cách sống, tài năng và đức độ cũng như sự linh hoạt ứng biến trong mọi tình huống của Người đã làm cho Phạm Quang Lễ cảm phục, một lòng tin tưởng theo Bác. Đặc biệt, trong một lần gặp gỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi Phạm Quang Lễ rằng: Nguyện vọng của chú lúc này là gì? Phạm Quang Lễ trả lời ngay: Dạ thưa, nguyện vọng cao nhất của cháu bây giờ là được trở về quê hương cống hiến hết năng lực và tinh thần2. Hiểu được tâm tư của Phạm Quang Lễ, từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phạm Quang Lễ có nhiều cuộc trò chuyện thân mật. Phạm Quang Lễ đã trao đổi với Người về những hiểu biết của mình về tình hình quốc tế, đặc biệt là về quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu khoa học của bản thân với mong muốn được trở về phục vụ Tổ quốc.

Từ khi trở về nước năm 1946, cho đến cuối đời, nhà khoa học Trần Đại Nghĩa được Đảng và Nhà nước tin tưởng giao nhiều trọng trách trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Cục trưởng Cục Quân giới, Cục trưởng Cục pháo binh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công thương, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hiệu trưởng đầu tiên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; Đại biểu Quốc hội khóa II, III. Dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực, với những cương vị, chức vụ công tác khác nhau và ở bất cứ đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào, Trần Đại Nghĩa luôn hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao. Cuộc đời hoạt động và cống hiến của Trần Đại Nghĩa đã nêu một tấm gương sáng về nghị lực, nhân cách, sự cống hiến hết mình trong lao động, nghiên cứu khoa học.

Với những thành tích quan trọng đối với đất nước, Trần Đại Nghĩa đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Danh hiệu Anh hùng Lao động; được Liên Xô vinh danh làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1966. Năm 1996, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa và cộng sự được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (bazooka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954).

Có thể nói, đối với Giáo sư Trần Đại Nghĩa, được trở về phụng sự Tổ quốc, nhân dân, dù có cảnh khó khăn, thiếu thốn đủ bề vẫn là niềm vinh dự, tự hào vô cùng to lớn. Ngày đất nước thống nhất, 30-4-1975, ông ghi vào cuốn sổ tay của mình: “Nhiệm vụ của Bác giao cho tôi và tập thể các nhà khoa học Việt Nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã hoàn thành…”. Sinh thời ông từng nói: “Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả”. Cuộc đời của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa chính là cuộc đời của một trí thức yêu nước trong thời đại Hồ Chí Minh. Ông cũng là người con tiêu biểu của Nam Bộ với khí phách hào sảng, lòng nhiệt thành yêu nước và nghĩa khí. Trở về nước, phụng sự Tổ quốc, nhân dân khi tuổi thanh xuân của ông đang hứa hẹn nhiều tương lai rộng mở ở trời Âu… Sự lựa chọn trở về của ông chính là sự thể hiện khát vọng cống hiến, trở thành gương sáng cho tuổi trẻ Việt Nam noi theo. Ông là đại diện của một thế hệ thanh niên đã gan góc đấu tranh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, một dân tộc thông minh, sáng tạo, đã hun đúc cho mình hoài bão, khát vọng cống hiến cho đất nước. Ông đã, đang và sẽ trở thành biểu tượng cho thanh niên Việt Nam luôn nguyện cống hiến cho khát vọng đất nước độc lập và phát triển phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.

Những đóng góp của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đối với đất nước đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khái quát trong Điện chia buồn gửi đến gia đình Viện sĩ ngày ông qua đời (9-8-1997): “… Suốt đời làm việc vì đại nghĩa, không biết mệt mỏi, dù ở cương vị nào, là Cục Trưởng Cục quân giới đầu tiên hay Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam, ở những trọng trách trong ngành kinh tế, khoa học, anh đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã có những cống hiến xứng đáng đối với quân đội, đối với dân tộc. Anh ra đi để lại một tấm gương sáng của một trí thức tiêu biểu, mẫu mực và đức độ: liêm khiết, công tâm; về tài năng: thông minh và sáng tạo; ăn ở đoàn kết, thủy chung, có thể nói là đã không phụ lòng Bác Hồ đã đưa anh về nước”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn