Anh hùng Lê Tấn Quốc
Lê Tấn Quốc (tức Lê Thanh Tòng), sinh năm 1919, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Long, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ năm 1945, xuất ngũ năm 1954, tái ngũ năm 1962. Khi hy sinh, đồng chí là đại đội trưởng lực lượng biệt động Sài Gòn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lê Tấn Quốc (tức Lê Thanh Tòng), sinh năm 1919, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Long, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ, nhập ngũ năm 1945, xuất ngũ năm 1954, tái ngũ năm 1962. Khi hy sinh, đồng chí là đại đội trưởng lực lượng biệt động Sài Gòn, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1945 đến năm 1954, Lê Tấn Quốc đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu ở miền Tây Nam Bộ. Từ năm 1954 đến tháng 1 năm 1968, đồng chí làm nhiệm vụ vận động quần chúng xây dựng cơ sở mật và chỉ huy một lực lượng biệt động hoạt động trong nội thành Sài Gòn.
Những năm hoạt động trong lòng địch gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm song Lê Tấn Quốc đã luôn luôn vững vàng, kiên định, tích cực công tác. Đồng chí làm được 3 hầm bí mật để nuôi cán bộ và cẫt giấu vũ khí, tổ chức được đường dây liên lạc từ Sài Gòn đến Năm Căn (Cà Mau) gồm 8 đầu mối giao liên, 12 cơ sở mật. Các cơ sở mật trên đều phát huy tác dụng tốt. Riêng đồng chí đã đưa đón hơn 200 cán bộ ra vào Sài Gòn an toàn.
Tháng 6 năm 1956, bị địch bắt và tra tấn rất dã man, Lê Tấn Quốc kiên quyết không khai báo, buộc địch phải thả. Ra tù, đồng chí tiếp tục hoạt động và còn động viên vợ cùng các con tham gia.
Ngày 31 tháng 1 năm 1968, Lê Tấn Quốc anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Ba người con của đồng chí cũng đã hy sinh.
Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba.
Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Tấn Quốc được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


