Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng LÊ THANH

Đồng chí Lê Thanh (tức Lê Văn Dọn) sinh ngày 10/7/1925; quê ở xã Phú Thọ Hòa, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Tháng 9/1945, đồng chí nhập ngũ khi mới 16 tuổi tại Gò Vấp - Hóc Môn; năm 1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng. Năm 1951, đồng chí giữ chức Đại đội trưởng Chi đội 12, Trung đoàn 3612, năm 1953, giữ chức Huyện đội phó huyện Gò Vấp, phụ trách giao liên miền Đông. Đồng chí đã chỉ huy đánh nhiều trận lớn, nhỏ, tham gia nhiều chiến dịch, tổ chức đánh địch càn quét, bảo vệ an toàn cơ quan Đặc khu

Lai Châu03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Lê Thanh (tức Lê Văn Dọn) sinh ngày 10/7/1925; quê ở xã Phú Thọ Hòa, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Tháng 9/1945, đồng chí nhập ngũ khi mới 16 tuổi tại Gò Vấp - Hóc Môn; năm 1946, đồng chí được kết nạp vào Đảng. Năm 1951, đồng chí giữ chức Đại đội trưởng Chi đội 12, Trung đoàn 3612, năm 1953, giữ chức Huyện đội phó huyện Gò Vấp, phụ trách giao liên miền Đông. Đồng chí đã chỉ huy đánh nhiều trận lớn, nhỏ, tham gia nhiều chiến dịch, tổ chức đánh địch càn quét, bảo vệ an toàn cơ quan Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Đồng chí đã mưu trí, linh hoạt chỉ huy đơn vị chiến đấu dũng cảm, đặc biệt trong các trận tập kích Sân bay Tân Sơn Nhất (tháng 12/1951); trận đánh tiêu diệt đại đội Cao Đài ở ngã 5 Vĩnh Lộc (tháng 02/1948) được cấp trên tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng Ba

Năm 1953, trong một trận chiến đấu, đồng chí bị thương nặng, bị địch bắt, giam cầm, tra tấn, nhưng đồng chí luôn giữ vững tinh thần, khí tiết của người đảng viên cộng sản. Trong tù, đồng chí đã cùng với các đảng viên tuyên truyền, vận động, giác ngộ được tù binh, nhân dân, gây dựng cơ sở, tổ chức phá trại giam và vượt ngục, đưa 70 người được giác ngộ về căn cứ an toàn tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đến cuối năm 1956, đồng chí được cử ở lại miền Nam công tác, được phân công tổ chức xây dựng căn cứ, đường dây giao liên của Trung ương Cục miền Đông Nam Bộ. Đồng chí đã cùng với các đồng đội vận động giác ngộ trên 2.000 người thuộc lực lượng Cao Đài, Bình Xuyên theo cách mạng. Từ năm 1957 đến năm 1959, đồng chí được cấp trên bổ nhiệm Phó ban Quân sự, Phó Tư lệnh miền Đông, cùng với các đồng chí lãnh đạo xây dựng căn cứ Xứ ủy Nam Bộ, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, trực tiếp chỉ huy đánh địch càn quét bảo vệ an toàn khu căn cứ, phát triển lực lượng vũ trang mở rộng vùng giải phóng. Tháng 4/1957, đồng chí chỉ huy đánh chiếm đồn Bến Củi (Tây Ninh) và tấn công Sân bay Tây Ninh, ta làm chủ tình hình, tranh thủ tập hợp nhân dân tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn đấu tranh chính trị, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ. Thu nhiều súng đạn các loại và quân trang, quân dụng. Năm 1958, trên cương vị Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu miền Đông có nhiệm vụ trực tiếp nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị phương án chiến đấu, đồng chí đã chỉ huy bộ đội đánh một số chi khu, quận lỵ Dầu Tiếng. Kết quả, ta diệt 2 tiểu đoàn của Sư đoàn 13 và 3 đại đội bảo an dân vệ, đánh bức rút 20 đồn bót, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên, bắt sống 200 tên, ta giáo dục thả tại chỗ, thu được 450 súng đạn các loại. Tháng 01/1960, đồng chí được Xứ ủy giao trực tiếp nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và trực tiếp chỉ huy đánh căn cứ Tua Hai. Kết quả, ta tiêu diệt 2 trung đoàn của Sư 13 quân đội ngụy Sài Gòn và các đơn vị trợ chiến, loại khỏi vòng chiến đấu trên 1.000 tên, bắt sống 500 tên, thu được 2.600 súng đạn các loại, các lực lượng huyện, xã thu hơn 1.000 súng và đạn các loại (địch xóa phiên hiệu Sư 13). Trong trận này, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Từ tháng 9/1961 đến tháng 10/1965, đồng chí giữ chức Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 180 chủ lực đầu tiên của Miền, bảo vệ Trung ương Cục và Quân ủy Miền, đồng chí đã chỉ huy đơn vị phối hợp với các đơn vị bạn đánh bại kế hoạch phản công mùa khô của quân ngụy vào căn cứ Long Nguyên - Bến Cát, bảo vệ an toàn cán bộ lãnh đạo Miền. Đồng chí trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 180 phối hợp với Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 đánh Trung đoàn 7 và Sư đoàn 5 ngụy ở Làng 14 - Dầu Tiếng, góp phần đánh bại kế hoạch phản công mùa khô của Mỹ, ngụy vào căn cứ Long Nguyên - Bến Cát - Thủ Dầu Một. Từ tháng 01/1966 đến tháng 10/1972, đồng chí được cấp trên giao Chỉ huy trưởng liên quận Gò Vấp - Hóc Môn (1966 - 1967), Phó Tư lệnh Phân khu I (1968 - 01/1969), Tư lệnh Phân khu I (02/1969 - 11/1972) cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy đơn vị xây dựng lực lượng, nghiên cứu chiến trường và tổ chức nhiều trận đánh lớn, nhỏ. Đặc biệt, đồng chí đã chỉ huy Phân khu I tham gia chiến dịch Mậu Thân năm 1968, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch và tạo ra cục diện mới cho cách mạng miền Nam. Đồng chí được thăng quân hàm Thượng tá và được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì. Từ tháng 3/1969 đến tháng 4/1972, trên cương vị Tư lệnh Phân khu I, đồng chí tiếp tục chỉ đạo lực lượng vũ trang phân khu bám trụ địa bàn chống địch càn quét, gom dân (thời gian này phần lớn các cơ quan và lực lượng vũ trang Miền ở bên đất bạn Campuchia). Từ tháng 11/1972 đến tháng 9/1974, đồng chí được giao cương vị Chính ủy Quân khu Sài Gòn - Gia Định, đồng chí cùng với tập thể Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang khu Sài Gòn - Gia Định đấu tranh thực hiện Hiệp định, xây dựng củng cố vùng giải phóng, đặc biệt lãnh đạo lực lượng vũ trang và nhân dân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ tháng 7/1975 đến tháng 12/1979, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh Công an vũ trang (nay là Bộ đội biên phòng) được phong quân hàm Thiếu tướng vào tháng 4/1977, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy lực lượng an ninh vũ trang, canh gác bảo vệ an toàn cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các mục tiêu quan trọng phía Nam; đồng thời triển khai bố trí lực lượng Công an nhân dân vũ trang trên toàn tuyến biên giới, bờ biển các tỉnh phía Nam; tổ chức hiệp đồng với các lực lượng vũ trang truy lùng tàn quân ngụy còn lẩn trốn, phối hợp với Quân khu 7 truy quét FULRO ở vùng núi Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Thuận. Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, đồng chí đã góp phần quan trọng vào việc tổ chức chỉ huy 7 trung đoàn biên phòng làm nhiệm vụ quốc tế Campuchia, 7 trung đoàn đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 01/1980 đến tháng 6/1987, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh Quân khu 7, trực tiếp chỉ đạo công tác biên phòng trên tuyến biên giới của Quân khu. Từ tháng 7/1987 đến tháng 9/1995, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh Bộ đội biên phòng phụ trách tuyến biên giới các tỉnh phía Nam. Tháng 5/1991, đồng chí được phong Quân hàm Trung tướng. Trong quá trình công tác và chiến đấu, qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ; đồng chí được Đảng, Nhà nước và quân đội tặng thưởng 2 Huân chương Quân công hạng Nhất; 2 Huân chương Quân công hạng Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; 1 Huân chương Chiến công hạng Ba; 1 Huân chương Chiến thắng hạng Nhất; 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; 3 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc; 1 Huy hiệu Quân kỳ Quyết thắng. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, tại Quyết định số 771/QĐ-CTN ngày 25/4/2015, đồng chí Lê Thanh, Tư lệnh Bộ đội biên phòng phía Nam, được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn