Khác

ANH HÙNG, LIỆT SĨ LÊ VĂN KIẾC (LÊ TRUNG NGHĨA) – NGƯỜI CON KIÊN TRUNG CỦA QUÊ HƯƠNG HÒA KHÁNH – CÁI BÈ

Họ và tên: Lê Văn Kiếc Bí danh: Lê Trung Nghĩa, Ba Nghĩa Năm sinh – hy sinh: 1923–1972 Quê quán: Làng Hòa Khánh, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho Nơi trưởng thành: Hưng Thạnh, huyện Mỹ An, nay thuộc vùng Tháp Mười Chức vụ tiêu biểu: Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong Ngày hy sinh: 30/9/1972 Danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, được truy tặng ngày 23/5/2005.

Đồng Tháp24/08/2026xã Hậu Mỹ (Xã Hậu Mỹ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ Hòa Khánh – Cái Bè, một người con bước vào lịch sử

Mỗi vùng đất đều có những con người mà cuộc đời họ trở thành một phần ký ức của quê hương.

Trên vùng đất Hòa Khánh – Cái Bè, có một người con như thế.

Ông là Lê Văn Kiếc, bí danh Lê Trung Nghĩa, thường gọi Ba Nghĩa – người chiến sĩ cách mạng đã đi từ một người du kích ở cơ sở, qua nhiều năm chiến đấu và trưởng thành, trở thành Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong.

Ông sinh năm 1923 tại làng Hòa Khánh, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Khi còn nhỏ, ông theo gia đình đến sinh sống, làm ăn tại xã Hưng Thạnh, huyện Mỹ An, nay thuộc vùng Tháp Mười. Chính nơi đây trở thành địa bàn gắn bó với phần lớn quá trình hoạt động cách mạng của ông.

Từ Cái Bè đến Đồng Tháp Mười, từ người du kích đến cán bộ chỉ huy quân sự, cuộc đời Lê Văn Kiếc là hành trình của một người con Nam Bộ đã dành những năm tháng đẹp nhất của mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Đêm 30/9/1972, trong khi làm nhiệm vụ tại trận Quán Tre, ông đã hy sinh.

Ông ra đi ở tuổi 49.

Hơn ba thập niên sau, ngày 23/5/2005, Chủ tịch nước truy tặng Lê Văn Kiếc danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Đó là câu chuyện về một con người.

Nhưng phía sau cuộc đời ấy còn là câu chuyện về một gia đình có chồng và hai người con cùng hy sinh vì Tổ quốc.


TUỔI THƠ TỪ QUÊ HƯƠNG HÒA KHÁNH

Theo tư liệu được UBND tỉnh Đồng Tháp đưa vào Ngân hàng tên đường và công trình công cộng, dựa trên Đồng Tháp nhân vật chí, Lê Văn Kiếc sinh năm 1923, quê tại làng Hòa Khánh, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho.

Hòa Khánh là nơi bắt đầu câu chuyện cuộc đời ông.

Nhưng khi còn nhỏ, Lê Văn Kiếc theo gia đình đến Hưng Thạnh, huyện Mỹ An sinh sống.

Đó là vùng Đồng Tháp Mười với những điều kiện tự nhiên và cuộc sống còn nhiều khó khăn.

Người thanh niên quê Cái Bè trưởng thành giữa vùng đất ấy, chứng kiến những biến động lớn của đất nước và rồi lựa chọn tham gia cách mạng.

Năm 1950, Lê Văn Kiếc tham gia lực lượng du kích xã.

Đó là bước khởi đầu của một hành trình kéo dài hơn hai thập niên.


TỪ NGƯỜI DU KÍCH ĐẾN NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

Những năm đầu tham gia cách mạng là thời gian Lê Văn Kiếc trưởng thành từ thực tiễn.

Ông hoạt động ở cơ sở, gắn bó với địa phương và từng bước được tổ chức tin tưởng giao nhiệm vụ.

Tháng 10/1958, Lê Văn Kiếc được kết nạp vào Đảng.

Đến tháng 4/1959, ông được điều lên bộ đội địa phương huyện Mỹ An.

Từ đây, cuộc đời ông bước sang một giai đoạn mới.

Từ một du kích xã, Lê Văn Kiếc trở thành người chiến sĩ trong lực lượng vũ trang địa phương.

Và chỉ chưa đầy một năm sau, tên tuổi ông gắn với một sự kiện đáng chú ý tại vùng Đồng Tháp Mười.


DẤU ẤN GÒ THÁP MƯỜI

Ngày 4/1/1960, Lê Văn Kiếc chỉ huy trung đội địa phương quân huyện phối hợp với các lực lượng cách mạng thực hiện nhiệm vụ tại khu vực Gò Tháp Mười.

Tư liệu lịch sử được UBND tỉnh Đồng Tháp sử dụng khi đặt tên đường cho biết Lê Văn Kiếc là người trực tiếp tham gia nhiệm vụ làm sập ngọn tháp 10 tầng mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã xây dựng tại Gò Tháp Mười làm đài quan sát.

Sự kiện ấy trở thành một trong những dấu mốc nổi bật trong cuộc đời hoạt động của Lê Văn Kiếc.

Nhưng điều đáng nói là ông không dừng lại ở một chiến công.

Sau đó, ông tiếp tục được rèn luyện, thử thách và đảm nhiệm những trách nhiệm ngày càng lớn.


TRƯỞNG THÀNH TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Tháng 2/1965, Lê Văn Kiếc được giao nhiệm vụ Huyện đội trưởng Cao Lãnh.

Đến tháng 7/1967, ông làm Chính trị viên Huyện đội Mỹ An.

Tháng 1/1971, Lê Văn Kiếc tiếp tục được giao trọng trách Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong.

Nhìn lại những mốc ấy, chúng ta có thể thấy một hành trình trưởng thành rõ nét:

1950 – Du kích xã

1958 – Đảng viên

1959 – Bộ đội địa phương huyện

1965 – Huyện đội trưởng Cao Lãnh

1967 – Chính trị viên Huyện đội Mỹ An

1971 – Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong

Từ một người thanh niên quê Hòa Khánh – Cái Bè, Lê Văn Kiếc từng bước trưởng thành thành một cán bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh.

Đó là kết quả của hơn 20 năm liên tục hoạt động, rèn luyện và cống hiến.


NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG NGỪNG CỐNG HIẾN

Nguồn tư liệu của tỉnh Đồng Tháp thống kê Lê Văn Kiếc đã tham gia và chỉ huy 120 trận, đồng thời ghi nhận nhiều thành tích của ông và đơn vị trong suốt quá trình hoạt động.

Riêng vào mùa nước năm 1971, trên cương vị Tỉnh đội phó, ông chỉ huy lực lượng thực hiện nhiều nhiệm vụ trên địa bàn phía bắc huyện Cao Lãnh.

Nhưng khi kể câu chuyện của một Anh hùng, những con số không phải điều duy nhất chúng ta nên ghi nhớ.

Điều quan trọng hơn là phía sau những con số ấy là hơn hai mươi năm của một cuộc đời.

Hai mươi năm xa quê.

Hai mươi năm hoạt động.

Hai mươi năm từ người du kích cơ sở trưởng thành thành người cán bộ chỉ huy.

Và cũng là hai mươi năm một gia đình phải sống giữa những chia ly, mất mát do chiến tranh.


ĐÊM 30 THÁNG 9 NĂM 1972

Năm 1972, Lê Văn Kiếc đang giữ chức Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong.

Đêm 30/9/1972, ông trực tiếp chỉ huy đơn vị thực hiện nhiệm vụ tại đồn Quán Tre.

Đó cũng là nhiệm vụ cuối cùng của ông.

Trong đêm ấy, Lê Văn Kiếc hy sinh.

Người thanh niên rời quê Hòa Khánh năm nào đã không còn cơ hội trở về trong ngày đất nước hòa bình.

Ông dừng lại ở tuổi 49.

Nhưng câu chuyện về Lê Văn Kiếc còn có một phần khác đặc biệt xúc động.

Đó là câu chuyện về gia đình ông.


MỘT GIA ĐÌNH – BA LIỆT SĨ

Vợ Lê Văn Kiếc là bà Phạm Thị Bê, sinh năm 1930.

Trong những năm kháng chiến, bà làm nhiệm vụ giao liên mật và nhiều lần bị bắt rồi được thả.

Hai ông bà có 10 người con.

Nhưng chiến tranh đã để lại những mất mát đặc biệt lớn đối với gia đình.

Không chỉ Lê Văn Kiếc hy sinh.

Hai người con của ông bà cũng trở thành liệt sĩ.

Người con Lê Văn Hùng, sinh năm 1949, là du kích xã Hậu Thạnh Tây, hy sinh ngày 17/4/1966.

Người con Lê Văn Lực, sinh năm 1955, là chiến sĩ thuộc lực lượng Khu 8, hy sinh ngày 22/9/1971.

Một năm sau ngày người con thứ hai hy sinh, đến 30/9/1972, Lê Văn Kiếc cũng nằm lại trong chiến tranh.

Ba con người trong cùng một gia đình.

Người cha – Lê Văn Kiếc.

Người con – Lê Văn Hùng.

Người con – Lê Văn Lực.

Cả ba đều trở thành liệt sĩ.

Ngày 17/1/2002, bà Phạm Thị Bê được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Vì vậy, khi kể về Lê Văn Kiếc, chúng ta không chỉ kể câu chuyện về một cá nhân.

Đó còn là câu chuyện về sự hy sinh của cả một gia đình.


33 NĂM SAU NGÀY HY SINH

Lê Văn Kiếc hy sinh năm 1972.

Nhưng những đóng góp của ông tiếp tục được ghi nhận sau ngày đất nước thống nhất.

Trong quá trình hoạt động, ông được tặng nhiều phần thưởng, trong đó có Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba, cùng nhiều bằng khen, giấy khen.

Đặc biệt, ngày 23/5/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng Liệt sĩ Lê Văn Kiếc – Lê Trung Nghĩa danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ba mươi ba năm sau ngày ông hy sinh, tên tuổi và những đóng góp của người con Hòa Khánh – Cái Bè được ghi nhận bằng một trong những danh hiệu cao quý của Nhà nước.


TÊN ÔNG Ở LẠI TRÊN NHỮNG CON ĐƯỜNG

Một điều rất ý nghĩa là tên Lê Văn Kiếc ngày nay còn được sử dụng để đặt tên đường tại Đồng Tháp.

Nghị quyết của HĐND tỉnh Đồng Tháp về đặt tên đường ghi rõ:

Lê Văn Kiếc (1923–1972), bí danh Lê Trung Nghĩa, Ba Nghĩa, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong.

Một con đường mang tên ông không đơn thuần là một địa chỉ.

Đó là một cách để lịch sử hiện diện trong đời sống hôm nay.

Người dân có thể đi qua con đường ấy mỗi ngày.

Những thế hệ trẻ có thể nhìn thấy cái tên ấy.

Và từ một tấm biển tên đường, một câu hỏi có thể được đặt ra:

Lê Văn Kiếc là ai?

Chính từ câu hỏi nhỏ ấy, một câu chuyện lịch sử có thể được mở ra.


NGƯỜI CON CÁI BÈ TRÊN ĐẤT THÁP MƯỜI

Điều đặc biệt trong cuộc đời Lê Văn Kiếc là sự kết nối giữa hai vùng đất.

Cái Bè là nơi ông sinh ra.

Tháp Mười và vùng Kiến Phong là nơi ông trưởng thành, chiến đấu và cống hiến.

Nguồn Tuyên giáo địa phương xác nhận ông sinh tại làng Hòa Khánh, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho, trước khi theo gia đình đến Hưng Thạnh sinh sống.

Vì vậy, đối với tuổi trẻ Cái Bè, câu chuyện Lê Văn Kiếc có một ý nghĩa riêng.

Một người con sinh ra trên quê hương đã đi đến một vùng đất khác.

Nhưng dù ở đâu, ông vẫn là một phần của lịch sử quê hương Cái Bè.

Hòa Khánh có quyền tự hào vì đã sinh ra một người con sau này trở thành Anh hùng LLVTND.


TỪ LÊ VĂN KIẾC ĐẾN TUỔI TRẺ HÔM NAY

Thế hệ trẻ hôm nay sống trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác.

Chúng ta không phải trải qua những lựa chọn giống Lê Văn Kiếc và thế hệ của ông.

Nhưng câu chuyện của ông vẫn có những giá trị vượt khỏi thời chiến.

Đó là tinh thần trách nhiệm.

Từ một người du kích xã, ông không ngừng rèn luyện để có thể đảm nhận những nhiệm vụ ngày càng lớn.

Đó là ý chí vượt qua khó khăn.

Từ vùng quê Hòa Khánh, một người thanh niên bình thường đã trở thành cán bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh.

Đó là tinh thần cống hiến.

Ông dành hơn hai thập niên cuộc đời cho nhiệm vụ chung.

Và trên hết, đó là câu chuyện về việc mỗi người trẻ có thể lựa chọn sống một cuộc đời có ích.

Thời đại hôm nay không yêu cầu thanh niên phải sống giống thế hệ năm 1950.

Nhưng quê hương vẫn cần sức trẻ.

Cần những người biết học tập.

Biết lao động.

Biết sáng tạo.

Biết tình nguyện.

Biết quan tâm đến cộng đồng.

Và biết trân trọng lịch sử nơi mình sinh ra.


ĐỂ KÝ ỨC SỐNG MÃI

Câu chuyện về Lê Văn Kiếc có thể bắt đầu từ một địa danh rất gần:

Hòa Khánh – Cái Bè.

Từ đó, hành trình ký ức có thể tiếp tục đến:

Hưng Thạnh – Mỹ An – Gò Tháp – Cao Lãnh – Kiến Phong – Quán Tre.

Mỗi địa danh là một phần trong cuộc đời ông.

Nếu được số hóa, hành trình ấy có thể trở thành một sản phẩm giáo dục lịch sử rất sinh động: bản đồ số, video kể chuyện, infographic, mã QR hoặc chuyên đề sinh hoạt Đoàn.

Điều quan trọng không phải chỉ là ghi nhớ những con số.

1923.

1950.

1960.

1971.

1972.

2005.

Điều quan trọng là hiểu được con người đứng phía sau những mốc thời gian ấy.

Một người con Hòa Khánh.

Một người du kích.

Một người đảng viên.

Một cán bộ chỉ huy.

Một người chồng, người cha.

Một liệt sĩ.

Một Anh hùng LLVTND.

Đó mới chính là cách để lịch sử trở nên gần gũi với thế hệ trẻ.


LỜI KẾT – NGƯỜI CON HÒA KHÁNH CÒN MÃI VỚI QUÊ HƯƠNG

Lê Văn Kiếc – Lê Trung Nghĩa – Ba Nghĩa (1923–1972) bắt đầu cuộc đời từ làng Hòa Khánh, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho.

Tuổi thơ ông theo gia đình đến Hưng Thạnh.

Năm 1950, ông tham gia du kích.

Năm 1958, ông trở thành đảng viên.

Năm 1959, ông vào bộ đội địa phương.

Năm 1965, ông trở thành Huyện đội trưởng Cao Lãnh.

Năm 1967, ông làm Chính trị viên Huyện đội Mỹ An.

Năm 1971, ông giữ chức Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong.

Và đêm 30/9/1972, người chiến sĩ ấy hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ tại Quán Tre.

Phía sau ông là một gia đình chịu những mất mát lớn của chiến tranh: hai người con Lê Văn Hùng và Lê Văn Lực cũng trở thành liệt sĩ; người vợ Phạm Thị Bê sau này được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Ngày 23/5/2005, Lê Văn Kiếc được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Hơn nửa thế kỷ đã qua kể từ ngày ông hy sinh.

Hòa Khánh đã đổi thay.

Cái Bè đã đổi thay.

Vùng Đồng Tháp Mười nơi ông từng hoạt động cũng đã đổi thay.

Nhưng lịch sử về những con người như Lê Văn Kiếc vẫn cần được thế hệ hôm nay tìm hiểu, gìn giữ và trao truyền.

Bởi biết về một người Anh hùng không chỉ để nhớ một cái tên.

Mà còn để hiểu hơn về quê hương đã sinh ra họ.

Để hiểu giá trị của hòa bình hôm nay.

Và để mỗi người trẻ tự hỏi mình:

Thế hệ cha anh đã dành tuổi trẻ cho độc lập của quê hương. Vậy tuổi trẻ hôm nay sẽ làm gì để xây dựng quê hương ngày càng tốt đẹp hơn?

ANH HÙNG, LIỆT SĨ LÊ VĂN KIẾC (1923–1972)
Bí danh: Lê Trung Nghĩa – Ba Nghĩa
Người con của Hòa Khánh – Cái Bè.
Người cán bộ trưởng thành từ du kích cơ sở.
Nguyên Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiến Phong.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

KÝ ỨC SỐNG MÃI – CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn