Anh hùng liệt sĩ Phan Đình Giót: Người lấy thân mình lấp lỗ châu mai ở cứ điểm Him Lam

Phan Đình Giót sinh năm 1922 tại thôn Vĩnh Yên, xã Tam Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình rất nghèo. Từ năm 13 tuổi, ông đã phải đi ở, làm thuê. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950 thì xung phong vào bộ đội.
Trong quân ngũ, ông luôn tự giác, gương mẫu về mọi mặt, hết lòng yêu thương, giúp đỡ đồng đội, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn nên được anh em mến phục, tin yêu. Ông còn lo từng giấc ngủ, bát canh cho đồng đội; mỗi khi thấy ai có khuyết điểm, ông nhẹ nhàng phân tích, khuyên nhủ khiến người ấy vừa cảm động vừa nhanh chóng nhận ra lỗi. Vì thế, anh em trong đơn vị gọi ông là “anh cả”.
Ông tham gia nhiều chiến dịch lớn như Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trận nào ông cũng quả cảm, kiên quyết vượt khó hoàn thành nhiệm vụ. Hai lần bị thương nặng, ông vẫn cố nén đau tiếp tục chiến đấu. Mới ba tháng tuổi quân, ông đã dự trận đánh đồn Tràng Bạch trên Đường 18. Sau khi diệt xong lô cốt số một, ông bị thương nặng, được lệnh lui về phía sau nhưng xin ở lại làm tròn nhiệm vụ đến hết trận. Trong trận tiêu diệt vị trí Chùa Tiếng (cuối năm 1950), khi bộc phá phá các lô cốt trầy trật, ông bò lên đặt bộc phá đánh lô cốt số một, rồi ném lựu đạn vào tiêu diệt toàn bộ lực lượng bên trong, tạo điều kiện cho đơn vị thắng trận.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông cùng đơn vị hành quân gần 500km, vượt nhiều đèo dốc, mang vác nặng. Chân nứt nẻ, đau buốt, rướm máu, ông vẫn cố gắng đi tiếp.
Chiều 13-3-1954, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 được lệnh nổ súng tiêu diệt cứ điểm Him Lam. Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, đơn vị của ông, triển khai đội hình từ 15 giờ. Anh em truyền tay nhau đọc thư Bác Hồ và lệnh động viên của Đại tướng Tổng Tư lệnh. Đến giờ pháo bắn, bộ đội rút ra khỏi rừng. Cùng với pháo binh chi viện, pháo cao xạ lần đầu xuất trận tạo nên không khí hào hùng chưa từng có kể từ ngày thành lập Quân đội.
Các chiến sĩ Đại đội 58 lao lên mở đường, liên tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Ông đánh quả thứ chín thì bị thương ở đùi nhưng vẫn xung phong đánh quả tiếp theo. Quân Pháp trút đạn như mưa xuống trận địa, bộ đội ta bị thương rất nhiều. Lúc này ông thay cán bộ chỉ huy trung đội ở cánh giữa. Thấy một hỏa điểm bắn chặn đồng đội, ông dùng quả lựu đạn cuối cùng đánh hỏa điểm, đối phương ngừng bắn; khi xung kích tiến lên thì hỏa điểm lại hoạt động, ông dùng tiểu liên đưa vào lô cốt bắn một băng. Ông bị thương lần thứ ba ở vai, máu chảy đầm đìa, ngất đi. Tỉnh dậy, ông thấy đồng đội bị chặn lại bởi một hỏa điểm đột nhiên xuất hiện; hai chiến sĩ đặt trung liên tìm cách dập tắt nhưng bị bắn bị thương.
Cán bộ trung đội đã thương vong hết, ông tự đảm nhiệm chỉ huy trung đội. Các chiến sĩ lần lượt xông lên diệt hỏa điểm đều hy sinh, hỏa lực từ lô cốt vẫn bắn mạnh, lực lượng xung kích bị ùn lại. Ông nhìn trừng trừng vào hỏa điểm, ép người sát mặt đất bò nhích lên từng chút, thận trọng tiến gần lỗ châu mai với ý nghĩ cháy bỏng duy nhất là phải dập tắt nó. Ông nâng tiểu liên bắn mạnh vào lỗ châu mai, hết đạn thì thay băng khác bắn tiếp. Nhưng khi xung kích xông lên, hỏa điểm vẫn bắn ác liệt. Mọi người thấy ông đứng lên ngồi xuống bên lỗ châu mai.
Dùng hết sức còn lại, ông nâng tiểu liên bắn mạnh vào lỗ châu mai và hô to: “Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân”. Rồi ông rướn người lấy đà, tay bám chặt những thân gỗ phía trên lỗ châu mai, xoay người thật nhanh, áp lồng ngực vào lỗ châu mai của đối phương. Hỏa điểm lợi hại nhất của quân Pháp bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ông hy sinh lúc 22 giờ 30 phút ngày 13-3-1954. Khi hy sinh, ông là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Huân chương Quân công hạng Nhì. Ngày 31-3-1955, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.



