ANH HÙNG LIỆT SĨ TRẦN HUYỀN – NGƯỜI ĐẠI ĐỘI PHÓ LẤY THÂN MÌNH CHE CHỞ ĐỒNG ĐỘI
Giữa chiến trường Quảng Trị những năm kháng chiến chống Mỹ, nơi từng được ví như “túi bom” với những trận đánh khốc liệt, nhiều cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Trong số đó, Anh hùng Liệt sĩ Trần Huyền là một tấm gương tiêu biểu về lòng dũng cảm, tinh thần quyết chiến quyết thắng và sự hy sinh cao cả vì đồng đội.

Trần Huyền sinh năm 1940 trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Lớn lên trong những năm đất nước còn nhiều gian khó, tháng 2-1960, người thanh niên quê Nghệ An tình nguyện nhập ngũ, được điều về Tiểu đoàn 74 thuộc Cục Tình báo, Bộ Tổng Tham mưu.
Sau một thời gian công tác, đến tháng 10-1963, Trần Huyền được tuyển chọn vào học tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Tốt nghiệp, đồng chí trở lại Tiểu đoàn 74, lần lượt đảm nhiệm các cương vị Trung đội trưởng rồi Đại đội phó Đại đội 2. Trong công tác, đồng chí luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng, tinh thần trách nhiệm cao, được cấp trên tin tưởng, đồng đội yêu mến.
Tháng 5-1967, sau khi vừa lập gia đình, Trần Huyền tạm biệt người vợ trẻ, cùng đơn vị hành quân vào chiến trường Quảng Trị, tăng cường cho Mặt trận B5. Nhiệm vụ của Đại đội 2 là trinh sát, lập hồ sơ hệ thống phòng thủ của địch tại Cồn Tiên, Dốc Miếu; tổ chức phục kích bắt tù binh và thu thập tin tức tình báo phục vụ công tác chỉ huy, tác chiến.
Trên cương vị Đại đội phó, Trần Huyền trực tiếp phụ trách hướng phía nam cứ điểm Dốc Miếu. Trong những ngày bám trụ chiến trường, đồng chí nhiều lần cùng các tổ trinh sát bí mật luồn sâu vào vùng địch kiểm soát. Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với hiểm nguy, nhưng bằng sự gan dạ, mưu trí và khả năng xử trí linh hoạt, đồng chí cùng đồng đội luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Sáng 17-8-1967, Ban Quân báo Mặt trận giao nhiệm vụ cho tổ công tác bắt sống một lính Mỹ để khai thác tin tức. Trần Huyền trực tiếp chỉ huy tổ gồm 4 người bí mật thâm nhập khu vực phía nam Cồn Tiên. Khi chỉ còn cách cứ điểm Dốc Miếu khoảng 600m, tổ trinh sát bất ngờ chạm trán một lực lượng lớn lính thủy đánh bộ Mỹ. Một trận đấu súng quyết liệt lập tức diễn ra.
Trước lực lượng đối phương đông hơn nhiều lần, có khoảng 100 lính Mỹ cùng xe bọc thép và trực thăng yểm trợ, Trần Huyền nhanh chóng nhận thấy nếu cả tổ cùng chiến đấu thì nguy cơ bị tiêu diệt hoặc bắt sống là rất lớn. Trong khoảnh khắc sinh tử, đồng chí quyết định ở lại chặn địch, tạo điều kiện cho đồng đội rút lui.
Đồng chí dứt khoát ra lệnh: “Tất cả rút ngay về phía sau, để tôi yểm hộ! Đây là mệnh lệnh!”
Nấp sau những tảng đá ven suối, Trần Huyền bình tĩnh nổ súng. Những loạt đạn chính xác khiến đội hình quân Mỹ liên tục phải dạt ra. Khi súng hết đạn, đồng chí tiếp tục dùng lựu đạn chống trả. Bị quân địch bao vây, người Đại đội phó vẫn không lùi bước.
Được pháo binh ta chi viện, Trần Huyền tiếp tục chiến đấu đến cùng. Khi không còn vũ khí hỏa lực, đồng chí dùng lưỡi lê, dao găm và võ thuật đánh giáp lá cà, kiên cường chống trả và tiêu diệt thêm nhiều lính Mỹ. Sự chống trả quyết liệt của người chiến sĩ Việt Nam khiến đối phương không thể bắt sống đồng chí.
Sau khi Trần Huyền anh dũng hy sinh, quân Mỹ phải rút lui, mang theo 26 thi thể binh lính của chúng. Vài ngày sau, đồng đội mới bí mật trở lại khu vực chiến đấu, đưa thi hài đồng chí về an táng.
Sự hy sinh của Trần Huyền là hình ảnh đặc biệt xúc động về một người cán bộ chỉ huy sẵn sàng nhận phần hiểm nguy nhất về mình để bảo vệ đồng đội. Trong thời khắc sinh tử, đồng chí không chọn con đường sống cho riêng mình mà quyết định ở lại chiến đấu, tạo cơ hội cho những người đồng chí, đồng đội thoát khỏi vòng vây của quân địch.
Trên chiến trường Quảng Trị, tên tuổi Trần Huyền được nhắc đến với danh hiệu “Dũng sĩ đâm lê” – biểu tượng cho tinh thần chiến đấu quả cảm, ý chí quyết thắng và lòng trung thành tuyệt đối với nhiệm vụ. Cuộc đời chiến đấu ngắn ngủi nhưng đầy khí phách của đồng chí đã trở thành tấm gương sáng về phẩm chất người quân nhân cách mạng.
Anh hùng Liệt sĩ Trần Huyền đã ngã xuống khi tuổi đời còn trẻ, nhưng sự hy sinh ấy không bao giờ bị lãng quên. Hình ảnh người Đại đội phó đứng lại giữa vòng vây, lấy thân mình che chở đồng đội vẫn mãi là biểu tượng đẹp về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần viết nên những trang sử hào hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.



