ANH HÙNG LLVT, LIỆT SĨ TRẦN VĂN KIỂU - NGƯỜI CHA MANG TÊN “VÔ DANH”
Hơn 20 năm hoạt động trong phong trào công nhân, Trần Văn Kiểu đã gây dựng nhiều cơ sở cách mạng tại các đồn điền cao su và giữa nội thành Sài Gòn. Để bảo vệ gia đình cùng tổ chức, ông không thể công khai nhận con, khiến giấy khai sinh của con gái phải ghi tên cha là “Vô Danh”. Khi người con biết “bác Hai” thường bí mật về thăm mình chính là cha ruột thì ông đã hy sinh.

Trần Văn Kiểu sinh năm 1918 tại làng Sơn Tĩnh, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 20 tuổi, ông rời quê vào Nam tìm việc và trở thành công nhân tại đồn điền cao su Suối Tre, sau đó chuyển đến làm việc ở một sở cao su tại Biên Hòa.
Cuộc sống của những người thợ cao su khi ấy vô cùng khắc nghiệt. Họ phải làm việc nặng nhọc, chịu sự quản lý hà khắc và thường xuyên bị đánh đập, cúp lương. Từ thực tế ấy, Trần Văn Kiểu tham gia hoạt động cách mạng, vận động công nhân đoàn kết đòi cải thiện đời sống, chống áp bức và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc.
Đầu năm 1949, ông tham gia thành lập nghiệp đoàn và được bầu vào Ban Thường vụ Liên đoàn Cao su Nam Bộ. Trần Văn Kiểu bí mật xây dựng các tổ chức trong công nhân, biến những lán trại và vườn cao su thành nơi nuôi dưỡng phong trào cách mạng.
Sau đó, ông được cử sang Campuchia, giữ nhiệm vụ Bí thư Đảng đoàn Cao su Cao Miên, nơi có đông công nhân Việt Nam làm việc. Cuối năm 1950, ông trở về tiếp tục hoạt động tại Nam Bộ. Đến năm 1964, trước yêu cầu tăng cường phong trào công nhân đô thị, ông được điều về làm Khu ủy viên, Phó Trưởng ban Công vận Sài Gòn – Gia Định.
Giữa thành phố bị kiểm soát gắt gao, Chín K hoạt động bằng nhiều giấy tờ và danh tính khác nhau. Ông xây dựng cơ sở trong các nhà máy, bến tàu, khu lao động; vận động công nhân bãi công, đấu tranh chống đàn áp và âm thầm hỗ trợ lực lượng cách mạng.
Vợ ông là bà Hà Thị Châu, một người con của Hà Tĩnh theo chồng vào Nam, cũng tham gia hoạt động, làm giao liên và vận chuyển lương thực vào chiến khu. Hai người có con gái là Trần Thị Lệ Thu, sinh năm 1959.
Do yêu cầu tuyệt đối bí mật, Trần Văn Kiểu không thể công khai nhận con. Gia đình phải sử dụng tên giả, còn trong giấy tờ của cô bé Lệ Thu, phần tên cha chỉ ghi hai chữ “Vô Danh”.
Tuổi thơ của bà Thu vì thế không có hình ảnh một người cha đưa đón hay chăm sóc hằng ngày. Thỉnh thoảng, vào lúc trời đã khuya, một người đàn ông được mẹ giới thiệu là “bác Hai” mới ghé qua. Ông hỏi chuyện học hành, xoa đầu cô bé rồi cho vài quyển tập, cây bút hoặc chút bánh kẹo trước khi vội vã rời đi.
Có lần bị bạn bè trêu là đứa trẻ không có cha, cô bé Thu chạy về khóc và trách người cha chưa bao giờ xuất hiện. Bà không biết rằng “bác Hai” vẫn thường âm thầm dõi theo mình chính là cha ruột. Sự xa cách và im lặng của ông là cách bảo vệ mẹ con bà cùng mạng lưới cách mạng giữa lòng thành phố.
Trong quá trình hoạt động, Trần Văn Kiểu bị bắt và đưa về giam tại Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn. Tại đây, ông gặp cán bộ phụ vận Lê Thị Riêng và nữ biệt động Phùng Ngọc Anh. Dù bị tra khảo, cả ba vẫn giữ bí mật của tổ chức.
Rạng sáng mùng Hai Tết Mậu Thân năm 1968, khi cuộc Tổng tiến công đang diễn ra, quân địch đưa ba người lên một chiếc xe tù bít bùng. Nhận thấy chiếc xe chạy theo lộ trình bất thường, Trần Văn Kiểu hiểu rằng họ đang bị đưa đi thủ tiêu.
Theo lời kể của bà Phùng Ngọc Anh, sau khi xe dừng trong đêm, những loạt đạn bất ngờ bắn xuyên qua thùng xe. Ông Trần Văn Kiểu và bà Lê Thị Riêng dùng thân mình che chắn cho người đồng đội trẻ. Trong giờ phút cuối cùng, ông còn cố gắng động viên rằng Ngọc Anh sẽ sống.
Trần Văn Kiểu và Lê Thị Riêng hy sinh trên xe. Phùng Ngọc Anh bị thương nặng nhưng may mắn được phát hiện còn sống và đưa đến Bệnh viện Chợ Quán.
Đêm hôm đó, qua tin tức từ đài phát thanh, bà Hà Thị Châu ôm mặt khóc rồi mới nói với con gái: “Cha con hy sinh rồi”. Cô bé Lệ Thu khi ấy mới chín tuổi vẫn chưa hiểu rõ cha mình là ai. Chỉ khi lớn lên, bà mới được mẹ kể rằng người đàn ông mình từng gọi là “bác Hai” chính là người cha đã âm thầm yêu thương và bảo vệ con.
Vài tháng sau ngày chồng hy sinh, bà Hà Thị Châu cũng bị bắt và đày ra Côn Đảo. Lệ Thu phải sống nhờ sự đùm bọc của đồng đội cha mẹ cho đến khi mẹ được trả tự do năm 1972.
Năm 2001, liệt sĩ Trần Văn Kiểu được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên ông được đặt cho đường phố, trường học và một giải thưởng dành cho những công nhân, người lao động tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến năm 2026, hài cốt của ông vẫn chưa được xác định. Bà Trần Thị Lệ Thu đã đăng ký mẫu ADN, mong một ngày được đón cha trở về và thực hiện di nguyện của mẹ: để hai người đã dành cả cuộc đời cho cách mạng được an nghỉ bên nhau.



