Anh hùng LLVT Phạm Phi Hùng - Ngọn đèn trong hầm chỉ huy
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Phi Hùng (tên khai sinh Phạm Văn Cừ, bí danh Tám Chè), sinh ngày 15/10/1932 tại xã Thông Hòa, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, là một trong những vị chỉ huy tiêu biểu của lực lượng vũ trang miền Tây Nam Bộ. Trưởng thành từ những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, ông trải qua nhiều cương vị chiến đấu và chỉ huy trong hai cuộc kháng chiến, sau này giữ chức Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Long. Với bản lĩnh của một

Người ta thường nhớ đến những người chỉ huy qua những trận đánh lớn. Riêng ông Nguyễn Văn Tám lại nhớ Anh hùng Phạm Phi Hùng bằng một ngọn đèn dầu nhỏ. "Mỗi đêm trước khi đánh lớn, ngọn đèn trong hầm của anh Tám Chè luôn sáng đến gần sáng." Ông Tám nói. "Không phải vì anh mất ngủ. Mà vì anh muốn chắc rằng sáng mai sẽ có nhiều chiến sĩ trở về nhất." Ông gặp Phạm Phi Hùng vào những năm kháng chiến chống Mỹ, khi được điều về cơ quan tham mưu của tỉnh. Lúc ấy, mọi người ít gọi tên thật Phạm Văn Cừ. Ai cũng quen gọi ông bằng bí danh Tám Chè. Một cái tên mộc mạc như chính con người ông. Sinh năm 1932 trên quê hương Thông Hòa, Cầu Kè, tuổi thơ của Tám Chè gắn với những cánh đồng lúa và dòng sông Cổ Chiên. Nhưng đất nước chìm trong chiến tranh đã khiến người thanh niên ấy sớm bước vào con đường cách mạng. Từ những ngày đầu tham gia lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã nổi tiếng là người gan dạ, quyết đoán và luôn biết dựa vào nhân dân để xây dựng thế trận. Ông Tám kể: "Anh luôn nói, người chỉ huy giỏi không phải là người biết ra lệnh, mà là người biết lắng nghe." Điều ấy theo ông suốt cả cuộc đời quân ngũ. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, chiến trường Vĩnh Long và Trà Vinh luôn là địa bàn vô cùng ác liệt. Địch đóng dày đặc đồn bốt. Liên tục mở những cuộc càn quét. Những người chỉ huy như Tám Chè gần như không có đêm nào được ngủ yên. Ban ngày xuống cơ sở. Ban đêm họp bàn phương án tác chiến. Có lần, trước một trận đánh lớn. Một cán bộ trẻ mang bản đồ đến báo cáo. Tám Chè xem rất kỹ. Rồi gấp lại. Ông hỏi: "Trong khu vực này còn bao nhiêu hộ dân?" Người cán bộ ngập ngừng. Ông nhẹ nhàng nói: "Muốn thắng thì phải biết dân đang ở đâu." Ông yêu cầu điều chỉnh lại phương án để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến người dân. Đó là điều khiến cấp dưới kính phục. Với ông. Chiến thắng phải đi cùng sự an toàn của nhân dân. Ông Nguyễn Văn Tám nhớ nhất những đêm ở căn cứ. Sau khi mọi người đã nghỉ. Trong căn hầm nhỏ chỉ còn ánh đèn dầu leo lét. Tám Chè vẫn ngồi bên tấm bản đồ. Từng cây cầu. Từng con rạch. Từng tuyến hành quân. Ông đều xem đi xem lại. Có lần ông Tám hỏi: "Anh coi kỹ vậy làm gì?" Người chỉ huy mỉm cười: "Mình sai một đường. Có khi chiến sĩ phải trả bằng máu." Từ đó. Ông hiểu vì sao người chỉ huy ấy luôn được bộ đội tin yêu. Không phải vì ông nghiêm. Mà vì ông luôn nghĩ đến người khác trước. Trong chiến đấu, Tám Chè chưa bao giờ chấp nhận sự chủ quan. Có lần một đơn vị xin đánh ngay khi vừa nhận tin tình báo. Ông yêu cầu trinh sát lại lần nữa. Một số người cho rằng quá thận trọng. Nhưng đúng đêm hôm ấy. Địch bất ngờ tăng quân. Nếu tiến công theo kế hoạch cũ, đơn vị sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Ông chỉ nhẹ nhàng nói: "Kiên nhẫn một chút để giữ được nhiều người." Sau này, nhiều cán bộ trẻ vẫn nhắc lại bài học ấy. Không ít lần Tám Chè trực tiếp xuống đơn vị đang chiến đấu. Có trận đánh kéo dài nhiều giờ. Bom đạn nổ liên tục. Cán bộ đề nghị ông ở lại sở chỉ huy. Ông lắc đầu. "Nơi nào chiến sĩ có mặt. Người chỉ huy cũng phải có mặt." Ông đến từng trận địa. Động viên từng tổ chiến đấu. Có chiến sĩ bị thương vẫn cố xin tiếp tục. Ông tự tay băng bó. Rồi bảo: "Còn đánh lâu dài. Giữ sức để còn trở lại." Đó là sự cương quyết nhưng đầy tình người. Ông Nguyễn Văn Tám kể rằng sau mỗi trận đánh. Điều đầu tiên Tám Chè làm không phải kiểm tra chiến lợi phẩm. Mà là hỏi: "Anh em mình đủ chưa?" Nếu còn ai chưa về. Ông không rời sở chỉ huy. Có hôm gần sáng mới nghe tin tổ trinh sát trở lại. Ông mới yên tâm ngồi xuống uống ngụm nước. Có chiến sĩ trẻ từng hỏi: "Anh có bao giờ sợ không?" Tám Chè cười hiền. "Ai ra trận mà không biết sợ. Nhưng người chỉ huy không được để nỗi sợ làm chiến sĩ dao động." Câu nói ấy trở thành bài học cho nhiều thế hệ cán bộ sau này. Đất nước thống nhất. Người chỉ huy năm xưa tiếp tục được Đảng và Quân đội giao nhiều trọng trách. Ông giữ cương vị Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Vĩnh Long. Dù ở cương vị nào. Ông vẫn giữ nếp sống giản dị. Đi cơ sở. Ăn cùng bộ đội. Nghe dân nói. Nhiều cán bộ trẻ ngạc nhiên khi thấy vị Chỉ huy trưởng vẫn tự mình xuống kiểm tra thao trường. Ông chỉ cười: "Xa chiến sĩ thì khó hiểu chiến sĩ." Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Phạm Phi Hùng được Đảng, Nhà nước và Quân đội trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba, cùng nhiều huân, huy chương và Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Nhưng với những người từng chiến đấu cùng ông. Điều đáng nhớ nhất không phải những tấm huân chương. Mà là ánh đèn dầu trong căn hầm chỉ huy. Ông Nguyễn Văn Tám nhiều năm sau vẫn nhớ. Mỗi lần ngọn đèn ấy còn sáng. Là biết người chỉ huy của mình vẫn đang suy nghĩ cách để ngày mai ít người phải ngã xuống hơn. Ông đứng lặng trước căn hầm đã được phục dựng. Khẽ vuốt lên chiếc đèn dầu cũ. Rồi mỉm cười. "Anh Tám Chè ơi… Ngọn đèn năm ấy đã tắt. Nhưng ánh sáng của nó vẫn còn trong lòng chúng tôi." Cuộc đời của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Phi Hùng (Phạm Văn Cừ – Tám Chè) là biểu tượng của người cán bộ quân sự mẫu mực: kiên trung, mưu trí, quyết đoán nhưng luôn giàu lòng nhân ái. Từ người chiến sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp đến vị chỉ huy của lực lượng vũ trang Vĩnh Long, ông đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Điều còn đọng lại không chỉ là những chiến công hay những huân chương cao quý, mà còn là hình ảnh một người chỉ huy luôn thức trắng bên ngọn đèn dầu, chỉ mong mỗi trận đánh kết thúc sẽ có thêm nhiều người lính được trở về với đồng đội và quê hương.



