Anh hùng LLVTND Đặng Thị Đê (Sáu Trầu) – Người tổ chức mạng lưới giao thông công khai kiên cường của miền Tây
Anh hùng LLVTND Đặng Thị Đê (Sáu Trầu) – Người tổ chức mạng lưới giao thông công khai kiên cường của miền Tây
Đặng Thị Đê (Sáu Trầu) sinh năm 1915, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân An, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Khi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng, đồng chí là Tỉnh ủy viên, Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc, Trưởng ban giao thông công khai Khu ủy miền Tây, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam – một cán bộ nữ tiêu biểu, suốt đời tận tụy với sự nghiệp cách mạng.
Tháng 8 năm 1945, Đặng Thị Đê tham gia cách mạng, dấn thân vào con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng chí luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao tinh thần trách nhiệm và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Từ năm 1948, đồng chí giữ cương vị Đoàn phó Phụ nữ cứu quốc huyện Càng Long; năm 1949 là Đoàn phó Phụ nữ cứu quốc tỉnh Trà Vinh; đến tháng 5 năm 1954 là Trưởng ban Phụ vận tỉnh. Tháng 2 năm 1959, Đặng Thị Đê được giao nhiệm vụ Trưởng ban giao thông công khai Khu ủy miền Tây – một vị trí đặc biệt quan trọng trong điều kiện chiến tranh ngày càng ác liệt.
Trên cương vị này, đồng chí đã tổ chức xây dựng và điều hành một mạng lưới giao thông công khai rộng khắp, hoạt động an toàn, bí mật, bảo đảm cho Khu ủy chỉ đạo phong trào cách mạng và các lực lượng vũ trang đánh địch kịp thời, hiệu quả. Bằng sự mưu trí, sáng tạo và tinh thần cảnh giác cao, đồng chí đã trực tiếp tổ chức đưa đón hàng nghìn lượt cán bộ, vận chuyển nhiều tài liệu quan trọng tuyệt đối an toàn. Đặc biệt, đồng chí còn chỉ đạo vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, trang bị phục vụ kịp thời cho các chiến dịch của quân khu, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung trên chiến trường miền Tây Nam Bộ.
Trong quá trình hoạt động, Đặng Thị Đê luôn linh hoạt trong tổ chức, biết kết hợp giữa công khai và bí mật, vừa che mắt địch, vừa tạo nguồn kinh phí và điều kiện thuận lợi cho cán bộ hoạt động. Sự dày dạn kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng đã giúp đồng chí vượt qua muôn vàn hiểm nguy, giữ vững hệ thống liên lạc chiến lược trong những năm tháng khốc liệt nhất.
Với những cống hiến to lớn cho cách mạng, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và Huân chương Kháng chiến hạng nhì. Ngày 31 tháng 7 năm 1998, đồng chí được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân – sự ghi nhận xứng đáng cho cuộc đời hoạt động bền bỉ, thầm lặng nhưng vô cùng to lớn của người nữ cán bộ miền Tây trung kiên.


