ANH HÙNG LLVTND KHUẤT DUY TIẾN NGƯỜI LÀM NÊN CUỘC NGHI BINH NGOẠN MỤC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN “TÔI CHỈ CÒN 15 PHẦN TRĂM XƯƠNG THỊT, 85 PHẦN TRĂM LÀ CỦA CÁC LIỆT SĨ”
Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Khuất Duy Tiến là một trong những vị tướng dạn dày trận mạc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Trong sự nghiệp quân sự đặc biệt ấy, dấu ấn sâu đậm nhất mang tên ông chính là nghệ thuật nghi binh xuất sắc trong Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975, góp phần tạo nên chiến thắng thần
Sinh ngày 27 tháng 2 năm 1931 trong một gia đình cố nông tại xã Đại Đồng, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây cũ, nay thuộc thành phố Hà Nội, Khuất Duy Tiến sớm tham gia cách mạng khi mới mười ba, mười bốn tuổi. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông cùng thanh thiếu niên trong làng tham gia giành chính quyền tại địa phương. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, ông là cán bộ tích cực diệt ác trừ gian, nhiều lần bị địch bắt, tra tấn và giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò, nhưng vẫn kiên cường giữ vững khí tiết cách mạng.
Tháng 9 năm 1950, ông chính thức nhập ngũ vào Trung đoàn 48, Đại đoàn 320. Trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu ác liệt, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị từ trung đội trưởng, đại đội trưởng đến trung đoàn trưởng. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia nhiều chiến dịch lớn tại Sơn Tây, Hà Nam Ninh, Hòa Bình và được kết nạp Đảng năm 1952.
Bước vào kháng chiến chống Mỹ, Khuất Duy Tiến cùng Sư đoàn 320 hành quân vào chiến trường Trị Thiên và Tây Nguyên. Những năm tháng chiến đấu gian khổ ấy đã rèn luyện nên một người chỉ huy mưu trí, quyết đoán, sâu sát thực tiễn. Chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971 là một trong những dấu mốc lớn trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Trên cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, ông chỉ huy đơn vị đánh bại lực lượng dù tinh nhuệ của quân đội Sài Gòn. Chính trong những trận đánh này, ông chứng kiến sự hy sinh vô cùng to lớn của đồng đội.
Nhớ lại những năm tháng ấy, ông từng nghẹn ngào nói rằng chưa có trận chiến nào trong cuộc đời binh nghiệp của mình lại có mức độ hy sinh cao đến như vậy. Những đồng đội đã ngã xuống trở thành nỗi đau và cũng là động lực thôi thúc ông sống và cống hiến trọn đời cho quân đội, cho Tổ quốc.
Năm 1972, Trung đoàn 64 tiếp tục tham gia Chiến dịch Đắk Tô Tân Cảnh, đánh bại lữ đoàn dù số 3 của đối phương lần thứ hai tại Tây Nguyên. Đó là những trận đánh quyết liệt, ác liệt, nơi ý chí và bản lĩnh của người chỉ huy được thử thách ở mức cao nhất.
Cuối năm 1973, Trung tá Khuất Duy Tiến được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận B3 Tây Nguyên. Trên cương vị này, ông đã trực tiếp chắp bút xây dựng kế hoạch nghi binh chiến lược cho Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975. Đây được đánh giá là một trong những cuộc nghi binh hoàn hảo nhất trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam.
Khi đó, địch nhận định quân ta sẽ tiến công Kon Tum và Pleiku ở Bắc Tây Nguyên. Nắm chắc tâm lý và phán đoán của đối phương, Khuất Duy Tiến cùng Bộ Tư lệnh Mặt trận đã tương kế tựu kế, tổ chức một hệ thống nghi binh quy mô lớn. Các hoạt động thông tin, truyền tin, điều động lực lượng, xây dựng công sự, kéo pháo đều được triển khai công khai tại Bắc Tây Nguyên, trong khi lực lượng chủ lực âm thầm hành quân xuống phía Nam, tập kết quanh Buôn Ma Thuột.
Hơn bốn vạn quân cùng xe tăng, pháo binh đã vượt rừng núi trong nhiều tháng mà không bị địch phát hiện. Khi thời cơ chín muồi, quân ta bất ngờ đánh chiếm Buôn Ma Thuột, làm sụp đổ toàn bộ hệ thống phòng thủ của đối phương tại Tây Nguyên. Từ thắng lợi này, quân địch rơi vào thế hoảng loạn, dẫn đến quyết định rút bỏ Tây Nguyên, mở ra chuỗi thất bại dây chuyền, tạo thời cơ chiến lược để quân ta tiến về giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự đánh giá rằng chính nghệ thuật nghi binh trong Chiến dịch Tây Nguyên đã tạo nên chiến thắng có ý nghĩa chiến lược, rút ngắn đáng kể thời gian chiến tranh, đúng như nhận định “một ngày bằng hai mươi năm”.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung tướng Khuất Duy Tiến tiếp tục tham gia chỉ huy, góp phần mở cánh cửa Tây Bắc Sài Gòn, tạo điều kiện cho các binh đoàn chủ lực tiến vào giải phóng thành phố.
Sau năm 1975, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng trong quân đội, tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Trở về nước, ông giữ các chức vụ như Cục trưởng Cục Quân lực, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng quân đội và đào tạo cán bộ.
Năm 2013, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng với ông, danh hiệu ấy không thuộc về riêng mình. Ông từng nói bằng tất cả sự chân thành rằng cơ thể ông do cha mẹ sinh ra chỉ còn một phần nhỏ, còn lại là của các liệt sĩ đã hy sinh để ông được sống.
Suốt cuộc đời, Trung tướng Khuất Duy Tiến luôn sống giản dị, khiêm nhường, tích cực tham gia công tác xã hội, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ông là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần trách nhiệm của người đảng viên, người lính Bộ đội Cụ Hồ.
Trung tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Khuất Duy Tiến từ trần ngày 23 tháng 11 năm 2024, khép lại một cuộc đời binh nghiệp vẻ vang. Nhưng tên tuổi và những đóng góp to lớn của ông, đặc biệt là nghệ thuật nghi binh xuất sắc trong Chiến dịch Tây Nguyên, sẽ còn mãi trong lịch sử dân tộc như biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và sự hy sinh cao cả.



