Anh hùng LLVTND Lê Hữu Trạc – Bản hùng ca bất tử trên tuyến lửa Vĩnh Linh - Cồn Cỏ
Có những con người mà chiến công của họ không chỉ nằm lại trên những trang sử thời chiến, mà còn tiếp nối âm thầm giữa thời bình. Trở về sau cơn mưa bom đạn với đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng, người sĩ quan trẻ năm xưa vẫn giữ nguyên vẹn "chất thép" của người lính Cụ Hồ để viết tiếp một hành trình phi thường khác. Đó là câu chuyện về Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Lê Hữu Trạc – người con thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình), năm sinh (1941).

Nếu có một đoạn thơ có thể lột tả vẹn tròn khí phách của những người con trung kiên của mảnh đất miền Trung nắng cháy, thì đó là hình ảnh những cây xương rồng kiêu hãnh và đầy ngoan cường, âm thầm trổ hoa giữa cái nắng khô rang và khói bom mịt mù.
“Cây xương rồng mọc trên cồn cát
Trong khô rang từng đợt gió tràn về
...Anh muốn ngắm những bông xương rồng đêm qua vừa nở
Dưới bom rơi trong nóng bỏng gió Lào “
(Hoàng Vũ Thuật, Những bông hoa trên cát, dẫn theo https://www.thivien.net/)
Xuyên suốt chiều dài lịch sử đấu tranh và bảo vệ quê hương, Quảng Bình – nơi từng là "tọa độ lửa" của chiến trường bom đạn – nơi vô vàn người anh hùng đã dâng trọn tuổi trẻ cho độc lập dân tộc. Và khi khói lửa tàn lụi, những con người ấy lại bước vào một cuộc chiến mới: cuộc chiến vượt qua bóng tối thương tật để thắp sáng niềm tin cho những người cùng cảnh ngộ. Trong đó, tiêu biểu là Anh hùng Lực Lượng Vũ trang Nhân dân Lê Hữu Trạc. Ông đã thắp sáng mái nhà chung của Hội Người mù tỉnh Quảng Bình.
Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Lê Hữu Trạc sinh năm 1941 tại thôn Xuân Dục, xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Tuổi thơ của ông gắn liền với đồng ruộng và dòng sông Long Đại - nơi nuôi dưỡng bao lớp người gan dạ, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc. Sống dưới ách bức nặng nề của quân thù và nỗi đau khôn cùng khi người cha bị giặc Pháp giết hại dã man. Ngọn lửa căm phẫn quân xâm lược và ý chí quyết tâm bảo vệ quê hương đã sớm bừng cháy trong lòng ngực người thiếu niên Lê Hữu Trạc. Tháng 4 năm 1962, khi vừa tròn tuổi đôi mươi, nghe theo tiếng gọi tổ quốc, ông tự tay viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau khi gia nhập, ông được biên chế về Đại đội 1 ( Đại đội Lê Hồng Phong ) , thuộc Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270 ( Sư đoàn 341) đóng quân tại tuyến lửa Vĩnh Linh làm nhiệm vụ trực chiến bảo vệ giới tuyến 17. Bước sang năm 1965, trước nguy cơ thất bại của chiến lược «Chiến tranh đặc biệt» ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã liều lĩnh mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đảo Cồn Cỏ – hòn đảo nhỏ nằm cách đất liền khoảng 17 hải lý – nhanh chóng rơi vào tầm ngắm đánh phá ác liệt của không quân và hải quân Mỹ. Nằm ở vị trí chiến lược đặc biệt trên vùng biển vĩ tuyến 17, Cồn Cỏ được ví như một "mắt thần trên biển", giúp quân ta quan sát được mọi động thái của tàu chiến và máy bay đối phương. Giữ vững Cồn Cỏ đồng nghĩa với việc giữ vững trạm quan sát tiền tiêu bảo vệ miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam. Trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, tháng 7 năm 1965, Đại đội Lê Hồng Phong (Đại đội 1, Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 270) được giao nhiệm vụ tuyển chọn những cán bộ, chiến sĩ kiên trung nhất ra tăng cường cho trận địa đảo Cồn Cỏ. Khi ấy, trên cương vị Trung đội phó kiêm Bí thư Chi bộ, ông Lê Hữu Trạc là một trong những người đầu tiên xung phong gánh vác trách nhiệm. Dù biết ra đảo là đối mặt với hiểm nguy rình rập, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc, ông cùng anh em trong trung đội vẫn viết tâm thư bằng máu xin ra tiền tuyến. Trước ngày lên đường, ông còn sáng kiến đề xuất toàn đơn vị cạo trọc đầu. Ý tưởng độc đáo này nhanh chóng được chỉ huy và đồng đội hưởng ứng nhiệt tình, bởi nó không chỉ giúp tiết kiệm từng giọt nước ngọt quý hiếm trên đảo mà còn tạo sự gọn gàng, thuận tiện khi thao tác chiến đấu. Anh hùng Lê Hữu Trạc kể lại. “Biết ra đảo sẽ vất vả, hiểm nguy nhưng anh em ai cũng hừng hực khí thế, viết tâm thư để được lên đường. Trước lúc đi, cả Trung đội phải cạo đầu vì ra đảo không có nước ngọt để tắm gội” .Ban đầu, trung đội dự kiến ra đảo làm nhiệm vụ trong 2 tháng; nhưng trước tinh thần chiến đấu quả cảm của đơn vị, cấp trên đã quyết định giữ trọn trung đội ở lại tiếp tục bám trụ. Đó cũng chính là sự khởi đầu cho hành trình gần 1.000 ngày đêm kiên cường trụ vững giữa sóng gió Cồn Cỏ.Tàu chiến và máy bay Mỹ quần thảo, đánh phá liên tục không kể ngày đêm; vừa dứt loạt pháo biển lại đến đợt trút bom từ trên không. Đất đá trên đảo bị cày nát vụn,
cây cối bốc cháy trơ trụi, công sự gia cố xong lại bị san phẳng dưới đạn pháo. Chỉ trong vòng 3 năm (1965 – 1968), các đơn vị bộ đội đóng trên đảo Cồn Cỏ đã xuất sắc bắn hạ 48 máy bay (trong đó có 29 chiếc rơi tại chỗ), đồng thời bắn cháy 17 tàu chiến và 2 thuyền của địch. Cá nhân chiến sĩ Lê Hữu Trạc vinh dự 3 lần được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ". Khi nói về những khen thưởng này, ông luôn vô cùng khiêm nhường tâm sự rằng: chiến công đó là của cả tập thể, bởi trên đảo Cồn Cỏ, mỗi thắng lợi đều đổi bằng sự phối hợp chặt chẽ, lòng dũng cảm và cả máu xương của biết bao đồng đội cùng nhau sát cánh. Năm 1966, niềm vui vỡ òa đến với quân dân trên đảo khi Lê Hữu Trạc và đồng đội vinh dự nhận được thư khen ngợi, động viên trực tiếp từ Bác Hồ, đồng thời đảo Cồn Cỏ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng.
Đầu năm 1968, sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ đảo, Lê Hữu Trạc được điều động trở lại đất liền và được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng Đại đội Lê Hồng Phong. Trên cương vị người chỉ huy, ông tiếp tục lãnh đạo, rèn luyện đơn vị chiến đấu kiên cường, góp phần đưa Đại đội Lê Hồng Phong trở thành đơn vị vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vào năm 1968 và ông được cấp trên tin tưởng bổ nhiệm giữ chức Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 47 (Tiểu đoàn 4), Trung đoàn 270, Bộ CHQS Đặc khu Vĩnh Linh (Quân khu 4). Vào tháng 8 năm 1968, tình hình chiến sự trở nên vô cùng căng thẳng khi đế quốc Mỹ lên kế hoạch đổ bộ ra miền Bắc, nhằm đánh phá khu phòng thủ tên lửa trọng yếu tại Vĩnh Linh. Trách nhiệm của Tham mưu trưởng Lê Hữu Trạc cùng đơn vị lúc bấy giờ vô cùng nặng nề. Để chuẩn bị phương án tác chiến chống địch đổ bộ đường không, ông đã trực tiếp cùng một chiến sĩ liên lạc đi trinh sát thực địa tại khu vực phía Tây Vĩnh Linh. Trên đường di chuyển trinh sát, đội hình của Tham mưu trưởng Lê Hữu Trạc không may vướng phải bom từ trường (bom nổ chậm) do máy bay địch thả xuống. Tiếng nổ kinh hoàng xé tan không gian. Sức nổ dữ dội của quả bom đã đánh văng Lê Hữu Trạc xa gần 50 mét. Người chiến sĩ liên lạc đi
cùng ông đã anh dũng hy sinh tại chỗ. Khi đồng đội tìm thấy Lê Hữu Trạc, toàn thân ông đẫm máu với muôn vàn vết thương nặng nề, và đặc biệt, đôi mắt của người lính trẻ ở tuổi 27 đã bị hỏng hoàn toàn, vĩnh viễn không còn nhìn thấy ánh sáng. Mặc
dù bom đạn đã lấy đi đôi mắt của Lê Hữu Trạc, nhưng niềm tin tất thắng, ngọn
lửa yêu nước vẫn mãi cháy đỏ trong tim ông.
“Giặc Mỹ có thể cướp đi ánh sáng
thiên nhiên, nhưng ánh sáng chân lý sẽ mãi không bao giờ tắt”, Lê Hữu Trạc nói.
Rời xa đơn vị và chiến trường khi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng ở độ tuổi sung sức nhất, người thương binh Lê Hữu Trạc mang trong mình bao cảm xúc ngổn ngang. Tuy nhiên, điều khiến ông trăn trở nhất không phải là nỗi đau thể xác, mà là làm sao để sống có ích, không trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Giữa những ngày tháng điều trị y tế với bóng tối bao trùm, ông đã tự sáng tác những dòng thơ để động viên chính bản thân mình:
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
"Ai đo được cây cao nhất trên rừng cao bao nhiêu mét? Ai cân được con cá lớn nhất dưới biển nặng mấy ngàn cân? Ai biết được lòng tôi thường suy nghĩ phân vân? Nhưng tôi rất đỗi tự hào và vững một niềm tin tất thắng."
Bằng ý chí quật cường của người lính Bộ đội Cụ Hồ, Lê Hữu Trạc đã biến nghịch cảnh thành sức mạnh. Ông đã đúc kết một triết lý sống cao đẹp: "Giặc Mỹ có thể cướp đi ánh sáng thiên nhiên, nhưng ánh sáng chân lý sẽ mãi không bao giờ tắt". Chính ngọn lửa yêu nước và niềm tin tất thắng ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc, nâng bước ông vượt qua bóng tối để bước vào chặng đường mới của cuộc đời. Sau thời gian điều trị ở miền Bắc, ông được chuyển về Trại an dưỡng thương binh Ba Vì để chăm sóc. Tại đây ,ông đã gặp được định mệnh đời mình là bà Kim Thị Mão - một người con Hà Tây nết na, dịu dàng. Cảm phục trước khí chất kiên trung và sự hy sinh to lớn nhưng đầy nghị lực phi thường của người lính giữ đảo Cồn Cỏ năm xưa, lòng thương mến trong lòng cô gái trẻ dần chuyển thành một tình yêu sâu sắc, chân thành. Và họ nên duyên vợ chồng. Năm 1972, khi chiến tranh vẫn còn gay gắt, bà Kim Thị Mão chọn rời bỏ sự bình yên nơi quê nhà để theo chồng về xóm nghèo Xuân Ninh (huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) an cư và lập nghiệp. Đất quê miền Trung cằn cỗi dưới cái nắng cháy và gió Lào khắc nghiệt, nhưng căn nhà nhỏ của hai vợ chồng luôn tràn ngập tiếng cười và nghĩa tình đậm sâu.
Năm 1973, niềm vui vỡ òa khi người con trai đầu lòng chào đời. Bằng bản lĩnh sắt đá của Bộ đội Cụ Hồ, dù không nhìn thấy ánh sáng, ông Lê Hữu Trạc vẫn luôn là trụ cột vững chắc chèo lái gia đình. Những năm sau đó, mái ấm nhỏ lần lượt đón thêm một bé gái và một bé trai chào đời. Suốt hơn 45 năm đồng hành, bà Kim Thị Mão không chỉ chăm lo công việc đồng ruộng, quán xuyến nhà cửa và nuôi dạy các con trưởng thành, mà còn là điểm tựa, người dẫn đường đưa ông Trạc đi qua khắp các nẻo đường. Mỗi bước chân của ông trên những con đường làng Xuân Ninh hay những chuyến đi công tác xa đều có bàn tay ấm áp của bà nắm chặt dẫn lối. Không chỉ vun vén cho hạnh phúc của bản thân, với mong muốn sống có ích cho xã hội, cựu chiến binh Lê Hữu Trạc đã tích cực tham gia vận động và trở thành Chủ tịch Hội Người mù đầu tiên của tỉnh Quảng Bình. Trên cương vị này, với sự đồng hành lặng lẽ của vợ, ông đã đi khắp các địa phương vận động thành lập tổ chức hội, mở các lớp dạy nghề, giúp vô số người khiếm thị có việc làm để tự nuôi sống bản thân và hòa nhập cộng đồng. Ông luôn truyền đi thông điệp sống tích cực: "Ánh sáng cuộc đời là không bao giờ tắt".
Năm 2018, khi ông được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, bà Kim Thị Mão vẫn lặng lẽ đứng bên cạnh, mỉm cười làm "đôi mắt" cho chồng, giúp ông cảm nhận trọn vẹn niềm vui và sự tôn vinh của quê hương. Tháng 7 năm 2025, người vợ tri kỷ Kim Thị Mão qua đời, để lại trong lòng ông Lê Hữu Trạc một khoảng trống mênh mông . Dù vậy ,tình nghĩa vợ chồng sâu nặng và sự chăm sóc vô điều kiện của bà trong hơn nửa thế kỷ vẫn là chỗ dựa tin thần vô giá, tiếp thêm sức mạnh để ông vững vàng sống những ngày tháng tuổi già bên con cháu.



