Anh hùng LLVTND, liệt sĩ Lê Văn Đa - Bức tâm thư viết bằng máu trước giờ xuất kích
Rời Thanh Hóa vào chiến trường khi chưa đầy 20 tuổi, Lê Văn Đa trở thành Trung đội trưởng Đặc công nước của Thị đội Hội An. Trong cuộc tiến công Xuân Kỷ Dậu năm 1969, anh tình nguyện ở lại chặn lực lượng phản kích, bảo vệ đồng đội rút lui và anh dũng hy sinh khi mới 21 tuổi.
Lê Văn Đa sinh năm 1948 tại làng Hoàng Đại, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Anh lớn lên trong những năm đất nước còn chia cắt, khi miền Bắc vừa xây dựng cuộc sống mới, vừa dồn sức chi viện cho chiến trường miền Nam.
Tháng 4-1967, khi mới 19 tuổi, Lê Văn Đa nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, anh cùng nhiều người con Thanh Hóa hành quân vào chiến trường Quảng Nam. Tại đây, anh được biên chế vào lực lượng đặc công nước của Thị đội Hội An.
Đặc công nước là một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm. Người chiến sĩ phải bí mật bơi qua sông, lặn dưới dòng nước trong nhiều giờ, mang theo vũ khí tiếp cận tàu chiến và mục tiêu nằm sâu trong khu vực đối phương kiểm soát. Chỉ một tiếng động, một ánh sáng hoặc một cử động bất thường trên mặt nước cũng có thể khiến nhiệm vụ thất bại.
Lê Văn Đa nhanh chóng thể hiện sự gan dạ, bình tĩnh và khả năng chỉ huy. Khi tuổi đời còn rất trẻ, anh đã được giao nhiệm vụ Trung đội trưởng. Anh cùng đồng đội tham gia nhiều trận chiến đấu, nổi bật là trận tập kích tại Cửa Đại, tiêu diệt một tiểu đội và phá hủy tàu chiến thuộc Duyên đoàn 14; cùng trận phục kích đánh chìm tàu đối phương trên sông thuộc khu vực Duy Nghĩa.
Mỗi lần trở về sau nhiệm vụ, Lê Văn Đa đều quan tâm kiểm tra quân số, hỏi thăm những người bị thương và cùng đồng đội rút kinh nghiệm. Anh được nhớ đến không chỉ bởi lòng dũng cảm mà còn bởi tình thương dành cho chiến sĩ dưới quyền.
Đầu năm 1969, đơn vị nhận nhiệm vụ tham gia cuộc tiến công vào trung tâm nội ô Hội An, nơi đặt nhiều cơ quan chỉ huy quan trọng của đối phương. Trước giờ xuất kích, Lê Văn Đa hiểu rằng chuyến đi này có thể là lần cuối cùng mình được cầm súng bên đồng đội. Theo bài dân ca được bà Nguyễn Thị Thà lưu giữ, trước khi lên đường, anh đã lấy máu của mình viết một bức tâm thư, thể hiện quyết tâm chiến đấu và lòng trung thành với cách mạng.
Trong đêm tiến công, Lê Văn Đa cùng đồng đội bí mật vượt qua các tuyến phòng thủ, đánh sâu vào nội thị và chiếm giữ được nhiều khu phố. Trận chiến kéo dài hơn một ngày đêm. Lực lượng đối phương sau phút bất ngờ đã điều thêm quân, xe và hỏa lực tổ chức phản kích quyết liệt.
Trước sức ép ngày càng lớn, đơn vị được lệnh rút khỏi khu vực để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, một số đồng đội bị thương chưa thể di chuyển nhanh. Nếu không có người ở lại chặn lực lượng truy kích, toàn bộ đội hình có nguy cơ bị bao vây.
Lê Văn Đa chủ động nhận nhiệm vụ ở lại. Anh chọn vị trí thuận lợi trên tuyến đường Hoàng Diệu, liên tục nổ súng về phía lực lượng đang phản kích, thu hút hỏa lực về phía mình. Nhờ sự kiên cường của người Trung đội trưởng trẻ tuổi, những đồng đội bị thương được đưa ra ngoài và phần lớn lực lượng rút khỏi nội ô an toàn.
Ngày 22-2-1969, trong lúc chiến đấu để bảo vệ đội hình rút quân, Lê Văn Đa anh dũng hy sinh. Khi ấy, anh mới 21 tuổi và chưa đầy hai năm quân ngũ.
Người chiến sĩ trẻ quê Thanh Hóa đã nằm lại trên mảnh đất Hội An. Nhân dân nơi đây thương tiếc và xem anh như một người con của quê hương mình. Từ ký ức của những người từng sống trong thời chiến, câu chuyện về anh được chuyển thành những câu hát dân gian mộc mạc. Trong lời hát do bà Nguyễn Thị Thà cung cấp, Lê Văn Đa được gọi là “đứa con yêu”, là người Trung đội trưởng trọn tình đồng đội và trọn lòng với nhân dân.
Năm 2018, Chủ tịch nước truy tặng liệt sĩ Lê Văn Đa danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cuộc đời anh tuy chỉ kéo dài 21 năm nhưng đã nối liền nghĩa tình của hai vùng quê: Thanh Hóa – nơi sinh ra anh và Hội An – nơi anh chiến đấu, hy sinh và được nhân dân mãi mãi ghi nhớ.
Lưu ý: Đây là một Anh hùng liệt sĩ chiến đấu tại miền Nam nhưng không phải người Bình Dương. Nhân chứng Nguyễn Thị Thà là người cung cấp, lưu giữ bài dân ca và ký ức cộng đồng về anh; nguồn công khai không xác nhận bà trực tiếp tham gia trận đánh cuối cùng.



