Anh hùng LLVTND Nguyễn Đệ (Ba Trung) – Vị tướng trưởng thành từ đội cảm tử Bà Rịa đến Tư lệnh Quân khu 9
Anh hùng LLVTND Nguyễn Đệ (Ba Trung) – Vị tướng trưởng thành từ đội cảm tử Bà Rịa đến Tư lệnh Quân khu 9
Nguyễn Đệ (tức Ba Trung) sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê ở xã Bàn Thạch, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Khi được tuyên dương danh hiệu Anh hùng, đồng chí là Trung tướng, nguyên Tư lệnh Quân khu 9 – một nhà chỉ huy quân sự dày dạn kinh nghiệm, gắn bó trọn đời với chiến trường Nam Bộ.
Sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, sớm mồ côi cha, Nguyễn Đệ đã sớm giác ngộ cách mạng từ khi mới 17 tuổi. Từ những ngày đầu tham gia kháng chiến, đồng chí trưởng thành qua thực tiễn chiến đấu, từ đội trưởng đội cảm tử Bà Rịa đến chỉ huy trưởng mặt trận Vĩnh Trà, từng bước khẳng định bản lĩnh của một người cán bộ chỉ huy kiên cường, mưu trí.
Trong hơn 30 năm hoạt động cách mạng, đồng chí đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng. Dù ở vị trí nào, Nguyễn Đệ cũng luôn vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, thể hiện ý chí cách mạng vững vàng, chủ động xây dựng lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang chủ lực và lực lượng địa phương để đánh địch rộng khắp. Trên chiến trường Nam Bộ ác liệt, đồng chí luôn sâu sát cơ sở, bám đơn vị, nắm chắc tình hình để chỉ huy chiến đấu hiệu quả.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, với cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 306, đồng thời là Chỉ huy phó Mặt trận Vĩnh Trà, Nguyễn Đệ đã trực tiếp chỉ huy lực lượng tiến công vào thị xã Vĩnh Long, góp phần làm chủ địa bàn, gây tiếng vang lớn trên chiến trường. Năm 1970, khi địch tập trung lực lượng đánh phá ác liệt ở chiến trường Vĩnh Trà, đồng chí đã chỉ huy Trung đoàn 3 tổ chức lại đội hình, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, tạo thế và lực mở rộng vùng giải phóng, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân khu.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên cương vị Sư trưởng, Tư lệnh Mặt trận 979, Nguyễn Đệ tiếp tục chỉ huy chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Cam-pu-chia xây dựng lực lượng, góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc.
Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng và quốc phòng, đồng chí được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất cùng 22 huân chương các loại. Ngày 25 tháng 6 năm 1998, đồng chí được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân – sự ghi nhận xứng đáng đối với một vị tướng suốt đời tận trung với Tổ quốc và nhân dân.


