Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng - Huỳnh Việt Thanh

Đồng Tháp15/10/2026Phường Bình Lộc (Đoàn phường Bình Lộc)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Huỳnh Việt Thanh, tên thật là Huỳnh Văn Dần, có bí danh là Thanh Vân, sinh năm 1926 tại xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong một gia đình nông dân.

Năm 1956, ông giác ngộ và tham gia cách mạng tại quê nhà. Lúc đầu, ông

công tác trong đội đấu tranh chính trị của xã; sau đó, gia nhập vào du kích.

Tháng 12 - 1958, ông bị địch bắt giam. Tuy bị tra tấn dã man, nhưng ông vẫn

một lòng trung thành với Đảng và nhân dân. Năm 1960, ông cùng với một số

đồng chí vượt ngục thành công, trở về địa phương tiếp tục công tác và chiến

đấu. Sau đó, theo sự phân công của cấp trên, ông nhận nhiệm vụ Xã đội trưởng

xã Hậu Thạnh, huyện Kiến Bình, tỉnh Kiến Tường (nay là xã Hậu Thạnh Tây,

huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An). Tại đây, ông đã ra sức phát triển đội du kích

xã ngày càng lớn mạnh với lúc đầu chỉ có vài cây súng trường và mã tấu, dần

dần phát triển thành một trung đội 30 người, trang bị vũ khí đầy đủ và đưa du

kích về trên xây dựng lực lượng vũ trang huyện và tỉnh. Tháng 3-1962, ông

vinh dự được kết nạp vào Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (nay là Đảng

Cộng sản Việt Nam).

Lúc địa phương bị giặc đóng, đồn bót dày đặc, ông cùng cán bộ, đội du

kích quyết tâm bám đất, bám dân. Tổ chức đánh địch, diệt ác ôn phá kìm kẹp,

góp phần đưa phong trào tiến lên vững mạnh. Ông hoạt động bằng nhiều hình

thức: hợp pháp, bán hợp pháp, bất hợp pháp, tổ chức hướng dẫn đồng bào đấu

tranh chính trị, binh vận trực diện với địch giành nhiều thắng lợi. Từ năm 1965 -

1966, ông chỉ huy đội du kích đánh khoảng 300 trận lớn nhỏ, tiêu diệt nhiều tên

địch, thu được nhiều vũ khí, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Những trận

đánh do ông chỉ huy làm cho địch khiếp sợ, gọi đội du kích của ông là “đội Cọp

Dần”.

Trong chỉ huy chiến đấu, ông luôn thể hiện tinh thần dũng cảm và mưu trí

cao độ. Điển hình là trận chống càn ở bờ nam kênh Dương Văn Dương, ông đã

tổ chức gài mìn, đặt chông và chỉ huy đội du kích bí mật mai phục một đại đội

lính bảo an quận Cai Lậy đi càn. Chờ cho toàn bộ quân địch lọt vào ổ phục kích,

ông ra lệnh cho đội du kích nổ súng tiến công. Quân địch hốt hoảng bỏ chạy tán

loạn, vướng phải bãi mìn và sụp hầm chông, nên bị tiêu diệt hàng chục tên.

Trận thứ hai là trận tiêu diệt trung đội biệt kích của địch đóng quân tại xã.

Bọn này rất hung hăng và tàn ác, thường xuyên tổ chức càn quét, đốt phá nhà

cửa, mùa màng, giết hại dã man nhiều cán bộ cách mạng và quần chúng vô tội,

gây nhiều tội ác với nhân dân. Với quyết tâm trả thù cho đồng chí và đồng bào;

cũng như để răn đe, cảnh cáo bọn ác ôn, ông đã trực tiếp điều nghiên quy luật

hành quân của trung đội biệt kích này để lên phương án tiêu diệt bọn chúng. Sau

đó, ông cho gài lựu đạn, đạp lôi, mìn ở những hướng mà địch thường đi lại trên

bộ để buộc chúng phải càn quét bằng đường thủy. Đồng thời, ông bố trí đội du

kích kiên trì phục kích suốt 7 ngày đêm ở dọc theo hai bên bờ kênh chảy ngang

qua xã để đón đánh bọn này. Kết cuộc, địch bị mắc mưu của ta. Đến ngày thứ

tám, trung đội biệt kích địch đi trên hai chiếc xuồng máy hùng hổ lùng sục vào

vùng giải phóng. Lập tức, ông chỉ huy đội du kích tập trung hỏa lực, bắn mãnh

liệt vào đội hình hành quân của địch, khiến cho hai chiếc xuồng bị chìm và gần

như toàn bộ trung đội biệt kích bị xoá sổ.

Ngày 25-9-1966, 3 đại đội địch bất ngờ đột kích vào vùng căn cứ xã Hậu

Thạnh, nơi đang diễn ra cuộc họp chỉnh huấn của cán bộ huyện và các xã. Trước

tình thế hiểm nghèo đó, ông bình tỉnh ra lệnh cho đội du kích xã hướng dẫn và

bảo vệ đoàn cán bộ rút lui an toàn ra khỏi vòng vây theo một hướng khác; còn

ông dũng cảm một mình chống xuồng ra chiến đấu chặn địch và thu hút lực

lượng địch về phía mình. Trận đánh không cân sức đã diễn ra hết sức ác liệt.

Cuối cùng, do không vào được căn cứ, quân địch đã rút lui. Trong lúc chiến đấu,

ông bị thương nặng, đứng chống xuồng dựa lưng vào cây tràm trong tư thế sẵn

sàng chiến đấu. Khi đồng đội tìm thấy thì ông đã ngất xỉu, đơn vị đưa vội đưa về

quân y, nhưng ông đã anh dũng hy sinh.

Trong quá trình chiến đấu, ông đã được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng

khen. Ba năm liền (1964-1966), ông đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Ngày 17-9-

1967, ông được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt

Nam truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba và danh hiệu. Anh

hùng Lực lượng vũ trang giải phóng. Tên ông được đặt tên đường ở thành phố

Tân An, tên trường trung học cơ sở ở xã Hậu Thạnh Tây, huyện Tân Thạnh, tên

trường tiểu học ở Phường 1, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn