ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LÊ PHÚ PHẨM
“Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho đời ta ngày nay đổi lấy hòa bình, giữa khói binh ai cũng nguyện lòng hi sinh. Xin tri ân những người chiến sĩ, quên đi niềm riêng, quên đi cả bản thân mình, cuộn chảy trong lòng, một dòng máu nóng, dòng máu Lạc Hồng…”. Nghe bài hát “Viết tiếp câu chuyện hòa bình” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung vang lên, lòng tôi bỗng bồi hồi xúc động. Tôi luôn thầm biết ơn thế hệ cha ông đã hi sinh thân mình để bảo vệ hòa bình, độc lập cho dân tộc. Có những ngọn lửa không bùng cháy giữa khói lửa chiến trường mà âm ỉ cháy trong ký ức của những người đã đi qua chiến tranh. Có những câu chuyện không cần lời lẽ hào hùng vẫn đủ khiến lòng người lặng đi, bởi phía sau mỗi ký ức là những năm tháng tuổi xuân đã được gửi trọn cho Tổ quốc, và ông nội tôi chính là những người như thế.
Ông tôi tên là Lê Phú Phẩm sinh năm 1951 tại làng Phước Chỉ, xã Phú Thọ nay là thôn Phước Xuân xã Quế Sơn Trung thành phố Đà Nẵng. Ông sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo Phú Thọ, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, cả cha và mẹ đều tham gia hoạt động cơ sở nên ông tôi có ý thức giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Năm 1967, năm đó ông mới vừa tròn 16 tuổi nhưng tình yêu quê hương và căm thù giặc đã sục sôi trong ông nên ông xung phong đi bộ đội và trở thành người lính Cụ Hồ, chỉ 02 năm sau ông được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trong thời gian này, ông cùng đồng đội lập được rất nhiều chiến công hiển hách. Ban đầu, ông làm liên lạc cho Tiểu đoàn Đồng Hải, Trung đoàn 21, Sư đoàn 2, Quân khu 5, từ năm 1967 đến tháng 6 năm 1968, ông tôi làm trinh sát, nắm địch, phục vụ cho các trận đánh của trung đoàn, điển hình là trận chiến đấu với trung đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, trong trận chiến đấu đó chẳng may ông tôi bị thương và bị sốt rét nặng, không bảo đảm sức khỏe để tham gia quân đội, đơn vị cho xuất ngũ về lại địa phương.
Tháng 7 năm 1968, với tinh thần người lính và quyết tâm, ý chí của mình, ông tôi tiếp tục tham gia du kích địa phương, Đảng ủy - Ủy ban nhân dân xã giao đảm nhiệm chức vụ trung đội trưởng du kích xã Phú Thọ. Tháng 11 năm 1968, ông chỉ huy trung đội phục kích tại ngã tư đường xe lửa, trên đường 105(nay là đường 611B), để chặn đánh đoàn xe quân sự của Mỹ đi từ căn cứ Núi Quế lên Quận lỵ Quế Sơn, ông cùng các đồng đội trong trung đội nổ súng tiêu diệt 12 tên Mỹ, bắn cháy 02 xe GMC, thu 04 súng AR15, trong đó bản thân ông trực tiếp dùng súng M72 bắn cháy 02 xe. Cuối năm 1968, ông được Ban chỉ huy xã đội phân công chỉ huy trung đội phối hợp với đơn vị đặc công 409 của Quân khu, ban đêm đánh tập kích xe thiết giáp đóng tại gò Ông Quát xã Phú Thọ, bắn cháy 06 chiếc M113, trong đó ông trực tiếp dùng súng M72 bắn cháy 02 xe.
Tháng 01năm1969, ông tôi trực tiếp chỉ huy 02 đồng chí trong trung đội cải trang, bắn chết 02 tên ác ôn khét tiếng Võ Lý và Ngô Văn Đình, trong đó có tên ác ôn Ngô Văn Đình là con trai của Ngô Thưởng – bí thư quốc dân đảng tại Phú Thọ. Trong thời gian này, ông tôi và du kích Phú Thọ nhiều lần chống càn thành công, đảm bảo an toàn vùng giải phóng. Tháng 3 năm 1969, ông tôi được điều về làm trinh sát cho huyện đội Quế Sơn, đầu tháng 1 năm 1970 làm Đại đội trưởng du kích đặc công 75 huyện đội Quế Sơn, sau khi nhận nhiệm vụ, ông tôi và ông Nguyễn Quốc Dũng – Chính trị viên đại đội được BCH huyện đội giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội nắm tình hình địch và chuẩn bị phương án đánh đồn cầu Xuân Phước xã Phú Thọ, sau khi hoàn thành phương án chiến đấu, được BCH huyện đội thông qua, đêm ngày 20 tháng 1 năm 1970 ông tôi trực tiếp chỉ huy đại đội tiến đánh đồn Xuân Phước, sau 3 giờ chiến đấu ác liệt, đại đội ông đã giành thắng lợi hoàn toàn, tiêu diệt 14 tên lính nghĩa quân và 04 tên cố vấn Mỹ, thu được 06 khẩu súng AR15, 01 khẩu M79, 01 máy PRC25 của địch. Đầu tháng 2 năm 1970, đại đội lại được BCH huyện giao nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Bà Lẫm xã Sơn Phúc (nay là xã Nông Sơn), sau một thời gian chuẩn bị, đêm ngày 25 tháng 2 năm 1970, đại đội chia làm 03 mũi dung thủ pháo, súng B40 và tiểu liên AK tiêu diệt gọn trung đội lính nghĩa quân gồm 18 tên, trong đó có 06 tên biệt kích Mỹ, thu 04 súng AR18, 01 máy PRC25. Đến tháng 3 năm 1970, đại đội tiếp tục được đồng chí Nguyễn Thanh Tân – Chính trị viên huyện đội và đồng chí Nguyễn Xuân Hùng – huyện đội trưởng giao nhiệm vụ, chuẩn bị tiến đánh đồn Núi Kiếm thuộc xã Quế Châu (nay là xã Quế Sơn Trung) cách Quận lỵ Quế Sơn 01km, sạu khi nhận nhiệm vụ ông tôi báo cáo với đồng chí Nguyễn Quốc Dũng chính trị viên đại đội bàn phương án trinh sát đồn Núi Kiếm trước khi lên phương án chiến đấu, được đồng chí Chính trị đại đội thống nhất, ông tôi trực tiếp chỉ huy tổ trinh sát gồm 03 đồng chí, tiến hành trinh sát đồn Núi Kiếm theo kế hoạch, qua trinh sát ông tôi nắm được đồn bố trí ở đồi núi cao, nhiều tảng đá lớn, nhiều hang động, nhiều lô cốt được địch bố trí phòng ngự khép kín rất kiên cố, bên ngoài địch bố trí đến 5 lớp hàng rào bùng nhùng. Sau khi trinh sát xong ông tôi trực tiếp báo cáo phương án tác chiến với đồng chính Chính trị viên đại đội, được đồng chí thống nhất và cho rằng đây là trận đánh khó khăn bởi vậy chúng ta phải làm tốt mọi công tác chuẩn bị và phải giành thắng lợi, khi công tác chuẩn bị đã hoàn thành, ông tôi trục tiếp báo cáo phương án với BCH huyện đội và được thống nhất cho đánh. Đúng 12 giờ đêmngày 23 tháng 3 năm 1970, ông tôi trực tiếp chỉ huy đại đội chia làm 4 mũi nổ súng tiến công đồn Núi Kiếm, sau hơn 2 tiếng chiến đấu, đơn vị của ông làm chủ đồn Núi Kiếm, tiêu diệt 45 tên lính địa phương quân, thu 02 súng cạt bin và 04 súng R15, phá hủy toàn bộ hệ thống lô cốt và trang bị trong đồn, phá vỡ thế phòng ngự phía đông bắc của Quận lỵ Quế Sơn, trong trận này ta hi sinh 02 đồng chí, bị thương 03 đồng chí. Đầu tháng 4 năm 1970, bọn Mỹ, ngụy đỗ biệt kích xuống núi Hòn Tàu, ông tôi trực tiếp chỉ huy 04 đồng chí trong đại đội theo dõi, bao vây diệt gọn 08 tên, trong đó có 04 tên biệt kích Mỹ, thu 04 súng AR15, 02 máy BRC25. Đêm ngày 18 tháng 4 năm 1970, đại đội tiếp tục tiến đánh đồn gò Ông Búp, ta tiêu diệt 18 tên lính nghĩa quân, thu 7 khẩu AR15, phá hủy 01 cối 60, 01 máy BCR25. Cuối tháng 4 năm 1970 ông tôi được BCH huyện đội điều về làm Đại đội trưởng V10 trực tiếp huấn luyện chiến thuật đánh đặc công cho đơn vị V10, sau 5 tháng huấn luyện từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1970. Trong tháng 9 năm 1970, ông tôi trực tiếp chỉ huy đơn vị V10, tập kích địch vào Sư đoàn 2 ngụy tại Sơn Lãnh (nay là xã Quế Sơn), tiêu diệt 22 tên, thu 6 khẩu súng AR15. Năm 1970 là năm ác liệt nhất ở địa bàn huyện Quế Sơn, ban ngày địch càn quét lấn chiến vùng giải phóng, ban đêm rút về các căn cứ, đồn bốt trên địa bàn, trong đó có đồn Rừng Cấm thuộc xã Phú Thọ. Chính vì thế, BCH huyện đội quyết tâm đánh địch tiêu diệt đồn Rừng Cấm. Do vậy, ngày 10 tháng 10 năm 1970 đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị đánh đồn Rừng Cấm xã Phú Thọ. Đây là một đồn được bố trí rất vững chắc gồm 24 lô cốt, 01 hầm pháo cối 82 ly, 02 đại đội địa phương quân, bên ngoài chúng bố trí 11 lớp hàng rào gồm 5 lớp hàng rào đơn, 6 lớp hàng rào bùng nhùng. Sau hơn 10 ngày làm công tác chuẩn bị, đúng 8 giờ đêm ngày 25 tháng 10 năm 1970, đơn vị nổ súng tiến công đồn Rừng Cấm, sau gần 4 giờ chiến đấu, ta đã làm chủ toàn bộ đồn Rừng Cấm, diệt địch 45 tên lính địa phương quân, 07 tên Mỹ, thu 25 súng AR15, 01 đại liên, phá hủy 02 cối 82, 02 máy PRC25, xóa sổ phiên hiệu 02 đại đội địa phương quân của địch. Trong trận chiến đấu này, ta hi sinh 02 đồng chí, bị thương 09 đồng chí nhưng đây là thắng lợi rất vẻ vang và có ý nghĩa, đã đánh tan âm mưu càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng của địch ở địa bàn huyện Quế Sơn nói chung và xã Phú Thọ nói riêng, làm cho nhân dân xã Phú Thọ càng phấn khởi, tin tưởng vào cách mạng.
Tháng 3 năm 1971, ông tôi trực tiếp chỉ huy đại đội phối hợp với du kích xã Phủ Thọ đánh đại đội trinh sát của Trung đoàn 5 đóng tại đồn Gò đồn xã Phú Thọ, ta bắt sống 04 tên, tiêu diệt 27 tên, thu 20 súng AR15, 02 khẩu M79 và 01 máy PRC25. Tháng 5 năm 1971, đơn vị tập kích đánh đồn Hương An, tiêu diệt một bộ phận quân địch đưa hơn 1500 nhân dân trong khu dồn ra vùng giải phóng. Tháng 6 năm 1971, ông tôi trực tiếp chỉ huy 03 đồng chí trinh sát về xã Phú Thọ bắt liên lạc với cơ sở tiêu diệt tên Khóa là ác ôn khét tiếng tại làng Xuân Phước xã Phú Thọ. Tháng 7 năm 1971, đại đội phối hợp với du kích xã Sơn Trung tiêu diệt 14 tên, bản thân ông tôi trực tiếp dùng súng B41 bắn cháy 01 xe M113 của địch.
Tháng 02 năm 1972, ông tôi chỉ huy đại đội, tập kích đánh đồi Hòn Gai tiêu diệt đại đội địa phương quân gồm 25 tên, trong đó có tên Đại đội trưởng, tháng 5 tham gia đánh địch ở nhà tằm, tạo điều kiện cho quân chủ lực bao vây căn cư Cấm Dơi, cũng trong tời gian này, đơn vị tổ chức bao vây đồn cầu Chợ Đụn, tiêu diệt 30 tên, thu 24 súng AR15, số còn lại tháo chạy về Núi Quế Hương An, tháng 06 năm 1972 ông tôi chỉ huy đơn vị hành quân về Phú Diên, phục kích đánh tiểu đoàn biệt động quân 79 từ Bà Rén kéo về Núi Quế, địch lọt vào khu khu vực đột kích của ta, ông tôi ra lệnh nổ súng tiến công, trận đấu nổ ra trong 4 giờ tiêu diệt 36 tiên địch, thu được 12 súng AR15 và một số chiến lợi phẩm. Số còn lại tháo chạy về căn cứ Núi Quế. Trong trận đấu này, ông thoát qua được cái chết nhưng cũng đã bị thương rất nặng được đưa về tuyến sau điều trị. Tháng 9 năm 1972, ông được bổ nhiệm làm Huyện đội phó Huyện đội Quế Sơn.
Tháng 5 năm 1973, tình hình sức khỏe của ông tôi có phần hạn chế (do bị thương quá nặng) nên Thường vụ Huyện ủy xét cho ông tôi ra Bắc để điều trị vết thương và điều dưỡng. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông tôi được trên điều về nhận công tác tại trại tù binh ở Tiên Lãnh.
Tháng 10 năm 1977 ông về nghỉ mất sức và sinh hoạt Đảng tại chi bộ thôn 4 xã Phú Thọ, huyện Quế Sơn.
Ông đã được nhà nước khen tặng: Huân chương Kháng chiến hạng Ba, Huy hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Đến năm 2015, ông được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Chiến tranh đã đi qua hơn 50 năm nhưng mỗi khi trái gió trở trời thì vết thương lại làm cho ông đau đớn. Có những lúc đêm khuya, nhũng lúc ông đau bệnh phải phẩu thuật, dùng thuốc gây mê làm cho tinh thần của ông không được tỉnh táo nhưng những lúc đó ông lại gọi tên đồng đội của mình. Chắc có lẽ kí ức chiến tranh đã in đậm trong ông và nó đã trở thành một phần cuộc sống của ông. Dù cơ thể không còn lành lặn nên việc đi lại gặp rất nhiều khó khăn nhưng mỗi khi có người đến địa phương tìm mộ liệt sĩ thì ông tôi tận tình giúp đỡ. Những lúc chưa tìm được, ông cứ ray rứt, boăn khoăn và quyết tâm tìm bằng được.
Người chiến sĩ đã dành cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc. Câu chuyện được kể không chỉ tái hiện những năm tháng chiến tranh đầy gian khổ mà còn khắc họa rõ nét ý chí kiên cường, lòng yêu nước và tinh thần hi sinh cao cả của một thế hệ đã sống, chiến đấu vì hòa bình hôm nay. Những ký ức ấy không chỉ là lịch sử mà còn là những bài học quý giá về lòng biết ơn, trách nhiệm và niềm tự hào dân tộc dành cho thế hệ trẻ, để mỗi người chúng ta nhìn lại giá trị của cuộc sống trong hòa bình, để thêm trân trọng những hi sinh thầm lặng của các anh hùng, liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người đã cống hiến cho Tổ quốc. Đó cũng là lời nhắc nhở rằng lòng yêu nước không chỉ được thể hiện trong những thời khắc gian nan, mà còn được gìn giữ bằng sự biết ơn, trách nhiệm và những hành động thiết thực mỗi ngày. “Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu xương, tuổi xuân của cả một thế hệ”. Và ký ức của những người lính sẽ mãi là ngọn lửa thắp sáng lòng yêu nước trong trái tim mỗi người Việt Nam. Nguyện tiếp nối truyền thống, gìn giữ ngọn lửa yêu nước và sống xứng đáng với những hy sinh của các thế hệ cha ông.
Nguồn thông tin: Trực tiếp từ nhân vật trong câu chuyện.


