Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bế Văn Đàn 1931
Có những mùa xuân đi qua rồi trở thành ký ức. Có những mùa xuân đi qua và trở thành lịch sử. Mùa xuân năm 1954 là một mùa xuân như thế – mùa xuân của những người lính trẻ đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi núi rừng Tây Bắc để viết nên một trang sử hào hùng của dân tộc. Những ngày tháng ấy, trên những triền núi Điện Biên, giữa mây trắng, rừng xanh và những con đường đất đỏ, hàng vạn người con đất Việt đang hướng về một nơi mà sau này cái tên ấy sẽ vang lên khắp năm châu: Điện Biên Phủ. Năm 1954, đất nước ta vẫn còn nghèo và chiến tranh còn diễn ra vô cùng ác liệt. Những người lính ra trận phần lớn còn rất trẻ. Có người vừa rời mái nhà tranh, có người chưa kịp nói lời từ biệt với mẹ, có người mang theo trong ba lô chỉ vài bộ quần áo cùng một niềm tin giản dị: phải chiến đấu và chiến thắng để đất nước được độc lập, nhân dân được sống trong hòa bình. Trong số những người lính năm ấy có Bế Văn Đàn – người chiến sĩ dân tộc Tày sinh năm 1931 tại Cao Bằng.


Có những mùa xuân đi qua rồi trở thành kí ức. Có những mùa xuân đi qua và trở thành lịch sử. Mùa xuân năm 1954 là một mùa xuân như thế - mùa xuân của những người lính trẻ đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi núi rừng tây Bắc để viết nên một trang sử hào hùng của dân tộc.
Những ngày tháng ấy, trên những triền núi Điện biên, giữa mây trắng, rừng xanh và nhưgx con đường đất đỏ, hàng vạn người con đất Việt đang hướng về một nơi mà sau này cái tên ấy sẽ vang lên khắp năm châu: Điện Biên Phủ.
năm 1954, đất nước ta vẫn còn nghèo và chiến tranh còn diễn ra vô cùng ác liệt, những người lính ra trận phần lớn còn rất trẻ. Có người vừa rời mái nhà tranh, có người chưa kịp nói lời từ biệt với mẹ, có người mang theo trong ba lôi chỉ vài bộ quần áo cùng một niềm tin giản dị: phải chiến đấu và chiến thắng để đất nước được độc lập, nhân dân được sống trong hoà bình.
Trong số những người lính năm ấy có Bế Văn Đàn - người chiến sĩ dân tộc Tày sinh năm 1931 tại Cao Bằng.
Bế Văn Đàn lớn lên trong một gia đình nghèo . Tuổi thơ của anh gắn với núi rừng và những tháng ngày cơ cực của quê hương. Chính từ cuộc sống ấy, trong anh sớm hình thành tình yêu sâu sắc đối với quê hương, đất nước và nhân dân.
Năm 1949, Bế Văn Đàn nhập ngũ. Từ một chàng trai miền nũi, anh trở thành người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Những ngày hành quân gian khổ, những buổi huấn luyện vất vả và những đêm ngủ giữa rừng đã tôi luyện anh thành một người lính kiên cường, giàu ý chí.
Rồi mùa xuân năm 1954 đến.
Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu.
Những đoàn quân nối nhau vượt núi. Có những con đường tưởng như không thể đi qua. Có những khẩu pháo phải kéo bằng sức người. Có những đêm cả đoàn quân lặng lẽ hành quân trong bóng tối để tránh máy bay địch.
Không chỉ có những người lính nơi chiến hào. Ở hậu phương, Những đoàn dân công cũng ngày đêm vất vả vận chuyển lương thực, đạn dược. Những chiếc xe đạp thồ chở chất đầy hàng vượt qua những con dốc dài. Những người mẹ, người chị, những thanh niên xung phong góp từng hạt gạo, từng manh áo cho tiền tuyến. tất cả đều cùng hướng về mục tiêu: Điện Biên Phủ.
Bế Văn Đàn cùng các chiến sĩ tiến lên phía trước.
Muốn tiến được vào vị trí của đối phương, bộ đội ta phải vượt qua những hàng rào dây thép gai và hoả lực mạnh. Trong lúc tình thế vô cùng cấp bách, Bế Văn Đàn đã lấy thân mình làm giá súng cho đồng đội.
Đó là một hành động mà người bình thường khó có thể tưởng tượng được. Nhưng với người lính đang đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chế, anh chỉ nghĩ đến một điều: Đồng đội phải tiếp tục chiến đấu, nhiệm vụ phải được hoàn thành.
Anh đứng vững để đồng đội có điểm tựa.
Tiếng súng vang lên.
Cuộc chiến vẫn tiếp diễn.
Và Bế văn Đàn đã anh dũng hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Anh ngã xuống giữa một trận chiến mà cả dân tộc đang đặt vào đó niềm tin hy vọng lớn lao. Không ai biết trong những giây phút cuối cùng, anh đã nghĩ gì. Có thể anh nghĩ về quê hương Cao Bằng, về gia đình và những người thân yêu. Cũng có thể trong khoảnh khắc cuối cùng, anh chỉ nghĩ đến những người đồng đội đang ở bên mình.
Những có một điều chắc chắn: sự hi sinh của Bế Văn Đàn đã trở thành biểu tượng cho tinh thần chiến đấu, lòng dũng cảm và tình đồng chí của người lính Việt Nam.
Chỉ một ngày sau đó, ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm tường De Castries. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.
Tin chiến thắng lan di như một cơn gió lớn. Sau những tháng ngày chiến đấu gian khổ, cuối cùng những người lính Điện Biên đã làm nên một chiến công chấn động thế giới.
Nhưng phía sau niềm vui chiến thắng là sự hi sinh im lặng của những người không trở về. Có những người lính nằm lại giữa núi rừng Tây bắc. Có những người chưa kịp nhìn thấy ngày chiến thắng. Có những người mẹ chờ con mãi bên hiên nhà. Có những người vợ chờ chồng qua những mùa lúa.
Chiến thắng được viết bằng niềm vui, những cũng được đánh đổi bằng tuổi trẻ và sự hi sinh của biết bao con người. Bởi vậy, Mỗi khi nhắc tới Điện Biên Phủ, chúng ta không chỉ nhắc đến những trận đánh, những chiến thuật hay những con số mà còn nhớ đến những con người bình dị đã làm làm nên lịch sử. Đó là Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện và hàng vạn người lính, dân công, thanh niên xung phòng cùng đồng bào cả nước đã góp sức cho chiến thắng.
Họ từng là những con người rất đỗi bình thường, họ cũng có gia đình, ước mơ và có những người thân yêu mong họ trở về, nhưng khi Tổ quốc cần, họ đã lựa chọn đứng lên. Chính sự lựa chọn ấy đã làm nên vẻ đẹp của một thời hoa lưa.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ mùa hè năm 1954. Những con đường chiến dịch ngày xưa giờ đã đổi khác. Điện Biên hôm nay mang một diện mạo mới. Những đứa trẻ được đến trường, những mái nhà mới mọc lện, cuộc sống ngày càng bình yên và phát triển.
Nhưng lịch sử vẫn còn ở đó.
Lịch sử hiện diện trong những di tích, những câu chuyển của các thế hệ đi trước, trong những nén hương được thắp lên trước các nghĩa trang liệt sĩ và trong kí ức của dân tộc.
Mỗi khi đứng trước một di tích của Điện Biên, chúng ta có thể tự hỏi: Nếu những người lính năm xưa biết rằng nhiều thập kỉ sau, đất nước sẽ có những thành phố rực rỡ ánh đèn, những em nhỏ được cắp sách tới trường và những gia đình được sống trong hoà bình, liệu họ còn thấy được sự hi sinh của mình là xứng đáng?
Có lẽ câu trả lời đã nằm trong chính chiến thắng năm ấy.
Bởi họ chiến đấu không phải cho riêng mình. Họ chiến đấu cho những người chưa được sinh ra, những đứa trẻ của ngày mai và cho một đất nước có quyền tự quyết định tương lai của mình. Đó chính là ý nghĩa lớn lao của sự hi sinh.
Bế Văn Đàn đã không trở về. Nhưng tên tuổi của anh vẫn còn sống mãi, tấm gương của người chiến sĩ trẻ ấy được nhắc lại cho các thế hệ sau, không phải để chúng ta sống mãi trong chiến tranh mà để chúng ta hiểu hơn giá trị của hoà bình, không phải để tôn vinh sự mất mát, mà để biết trân trọng cuộc sống ngày hôm nay.
Thời hoa lửa đã lùi xa. Nhưng ngọn lửa của lòng yêu nước vẫn còn cháy. Nó cháy trong kí ức của những người từng đi qua chiến tranh, trong những câu chuyện được kể lại qua từng trang sách và trong trái tim của thế hệ hôm nay.
năm 1954, những người lính Điện Biên đã viết lên một trang sử bằng chính tuổi trẻ của mình. Họ đi qua những năm tháng gian khổ và để lại cho chúng ta một bài học vô cùng quý giá: độc lập không tự nhiên mà có, hoà bình không phải là món quà từ trên trời rơi xuống. Đó là thành quả được xây dựng bằng lòng yêu nước, ý chí, trí tuệ và sự hi sinh của biết bao thế hê.
Vì thế, khi lá cờ Tổ quốc tung bay trong bầu trời bình yên hôm nay, chúng ta càng hiểu hơn giá trị của những mùa hoa lửa năm xưa. Và giữa dòng chảy của thời gian, hình ảnh người chiến sĩ trẻ Bế Văn Đàn vẫn đứng đó nhưng một ngọn lửa - ngọn lửa tuổi trẻ, của tình đồng đội và của lòng yêu nước.
Một ngọn lửa không tắt.
Một ngọn lửa đã góp phần làm lên Điện Biên Phủ - cột mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam.


