Cựu chiến binh

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Bùi Văn Thuyên

Tây Ninh27/10/2026Xã Lộc Quang (Đoàn xã Lộc Quang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Sinh ra từ gian khó và lớn lên giữa vùng đất lửa Tây Ninh, cuộc đời binh nghiệp của Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Bùi Văn Thuyên là một khúc tráng ca bất khuất về lòng dũng cảm, mưu trí và tinh thần kiên trung của người lính Bộ đội Cụ Hồ . Từ người lính gác mật vụ luồn sâu vào sào huyệt Tua 2, cho đến chiếc bẫy thùng đạn đại liên diệt gọn toán ác ôn, anh đã cùng lực lượng du kích làm nên những chiến công huyền thoại

. Đặc biệt, biểu tượng tinh thần thép nhét ruột vào bụng để tiếp tục bóp cò diệt giặc tại thung lũng Bàu Sen và tấm lòng sắt son bám dân, lo cho đồng đội của anh mãi là dấu ấn kiêu hãnh lưu danh vào sử xanh dân tộc.”

1. Người cận vệ quả cảm trong lòng địch tại căn cứ Tua 2

Anh hùng Bùi Văn Thuyên sinh năm 1940 tại vùng đất giàu truyền thống cách mạng thuộc xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh (nay ngụ tại ấp Sa Nghe, xã Hảo Đước, tỉnh Tây Ninh). Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, mới 13 tuổi đầu anh đã phải đi ở đợ chăn trâu cắt cỏ kiếm sống. Những năm tháng tuổi thơ cơ cực, dầm mưa dãi nắng nơi đồng bãi đã rèn giũa cho anh đức tính kiên nhẫn, chịu thương chịu khó vô cùng sắc đá. Đến năm 15 tuổi, anh thôi ở đợ, trở về cùng gia đình bôn ba làm mướn, làm thuê để phụ giúp cha mẹ vơi bớt gánh nặng cuộc đời.

Lớn lên giữa bầu không khí sục sôi của quê hương và được giáo dục trong một gia đình có ý thức giác ngộ cách mạng sâu sắc, năm 18 tuổi, người thanh niên Bùi Văn Thuyên chính thức tham gia hoạt động cách mạng tại khu vực căn cứ Tua 2. Đây là một cứ điểm quân sự cực kỳ quan trọng của quân Ngụy nằm trên tuyến Quốc lộ 22B, cách thị xã Tây Ninh khoảng 7km về phía Bắc. Thành Tua 2 thời điểm đó là nơi đồn trú sừng sỏ của cả một trung đoàn bộ binh Ngụy, đồng thời là trại bồi dưỡng huấn luyện biệt kích và là tổng kho vũ khí dự trữ chiến lược cho toàn vùng.

Nhận thấy tầm quan trọng của cứ điểm này, tổ chức đã tin tưởng giao nhiệm vụ cho anh Thuyên: Bằng mọi giá phải lọt được vào bên trong thành Tua 2 để điều nghiên, nắm chắc quy luật hoạt động cũng như sơ đồ bố phòng hỏa lực của quân Ngụy. Đêm ngày trăn trở tìm phương án hoạt động công khai giữa tai mắt dày đặc của giặc, bằng sự thông minh và mưu trí, anh Thuyên đưa ra một quyết định táo bạo: Tiếp cận và làm quen với chính tên Trung tá Chỉ huy trưởng thành Tua 2.

Bằng bản tính hiền lành, thật thà và chịu khó, anh nhanh chóng chinh phục được lòng tin, tình cảm của tên chỉ huy cáo già. Hắn đắc ý, ra quyết định thu nhận anh vào làm lính gác-đờ-co (vệ sĩ riêng) cho mình. Có được cái "bùa hộ mệnh" danh giá này, anh Thuyên được tự do ra vào căn cứ Tua 2 một cách đường đường chính chính mà không một tên lính gác nào dám ho he xét hỏi.

Lợi dụng lòng tin tuyệt đối của tên chỉ huy, anh Thuyên đã mưu trí đưa 2 cán bộ trinh sát của cách mạng cải trang thành dân Sài Gòn lên căn cứ. Anh chủ động dẫn họ vào gặp Trung tá chỉ huy, giới thiệu đây là hai người "anh ruột" ở quê lên thăm, xin phép được đưa vào trong thành chơi vài hôm. Nhờ sự bảo lãnh của viên cận vệ thân tín, tên Trung tá gật đầu đồng ý ngay không mảy may nghi ngờ. Chớp thời cơ quý giá, anh Thuyên dẫn hai người "anh ruột" đi tham quan vòng quanh căn cứ Tua 2, tạo điều kiện cho các cán bộ cách mạng nghiên cứu kỹ lưỡng từng lô cốt, lỗ châu mai và điều nghiên trận địa một lần cuối cùng trước khi nổ súng.

Đêm ngày 25 rạng sáng 26 tháng 1 năm 1960, lực lượng cách mạng đồng loạt nổ súng tiến công dũng mãnh vào căn cứ Tua 2. Trận ấy cứ điểm bị san phẳng, nhưng tên Trung tá may mắn thoát chết. Sau trận đánh, hắn bắt đầu nghi ngờ có nội gián nên bí mật cắt cử lực lượng thám báo ngày đêm theo dõi nghiêm ngặt di biến động của anh Thuyên. Nhận thấy nguy cơ bị lộ đã cận kề, ngày 3 tháng 2 năm 1960, anh Thuyên dứt khoát rút lui ra vùng căn cứ giải phóng để bảo toàn lực lượng. Tại đây, anh chính thức trở thành chiến sĩ thuộc đơn vị C40 và được tổ chức cử đi học lớp bồi dưỡng huấn luyện Đặc công chuyên nghiệp. Đến năm 1964, anh hoàn thành khóa học, được điều động về lại quê hương Thái Bình giữ chức vụ Xã đội phó.

2. Ngọn cờ đầu đánh Mỹ tại chiến trường Trảng Lớn

Giữa năm 1965, đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam. Tại chiến trường Tây Ninh, chúng cho xây dựng một căn cứ quân sự khổng lồ tại vùng Trảng Lớn, nằm ngay trên địa bàn chiến lược do anh Thuyên trực tiếp phụ trách. Đứng trước một kẻ thù hung hãn, vượt trội hơn ta gấp nhiều lần về phương tiện chiến tranh và hỏa lực hiện đại, thời gian đầu, một bộ phận du kích địa phương không tránh khỏi tâm lý ngán ngại quân Mỹ.

Để đập tan tư tưởng dao động đó, Xã đội phó Bùi Văn Thuyên đã tự mình băng rừng lội suối, trực tiếp theo dõi để tìm hiểu quy luật hành quân, điểm mạnh và điểm yếu của lính Mỹ. Từ những bài học thực tế, anh tổ chức họp đội du kích, làm công tác tư tưởng một cách sâu sắc, xây dựng quyết tâm sắt đá "Mỹ tới là đánh" cho toàn đơn vị. Trận ra quân đầu tiên do anh Thuyên trực tiếp chỉ huy, đội du kích xã Thái Bình đã mưu trí bám trụ, nổ súng tiêu diệt tại chỗ 8 tên lính Mỹ.

Chiến thắng vang dội của trận đầu ra quân đã giải tỏa toàn bộ áp lực tâm lý cho bộ đội. Huyện đội lập tức mời anh Thuyên về cơ quan để báo cáo thành tích và chia sẻ kinh nghiệm đánh Mỹ cho các xã bạn cùng học tập, rút kinh nghiệm. Từ đốm lửa đầu tiên ấy, phong trào thi đua đánh Mỹ diệt Ngụy bùng lên rầm rộ khắp toàn huyện Châu Thành, trong đó lực lượng du kích xã Thái Bình kiên cường luôn là lá cờ đầu của toàn mặt trận. Ghi nhận những cống hiến xuất sắc đó, ngày 19 tháng 8 năm 1968, anh vinh dự được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những năm 1969 – 1970, tình hình chiến sự vùng biên chuyển biến cực kỳ gay gắt, liên quân Mỹ – Ngụy điên cuồng tổ chức các đợt càn quét, đánh phá ác liệt vào vùng căn cứ. Để bảo toàn lực lượng và luôn giữ thế chủ động tiến công, anh Thuyên phát động phong trào toàn dân du kích, tổ chức đào hệ thống hầm bí mật, công sự kiên cố ở khắp các ngả đường, sẵn sàng nổ súng đánh úp giặc ngay khi bàn chân chúng vừa chạm vào vùng giải phóng. Thời điểm này, nguồn đạn dược, vật liệu nổ của ta gặp muôn vàn khó khăn, anh đã cùng anh em du kích không ngại hiểm nguy, lặn lội đi nhặt nhạnh từng trái đạn lép, bom câm của giặc đem về cải tiến, chế mặt thành các loại trái nổ, mìn tự chế để đánh lại chính chúng.

Ngày 4 tháng 10 năm 1969, quân Mỹ điều động một lực lượng lớn tiến công hung hãn vào khu vực ấp Sa Nghe. Trước tình thế ngặt nghèo, Chi bộ xã họp khẩn để bàn phương án đánh địch sao cho vừa tiêu hao được sinh lực giặc, vừa bảo toàn được tối đa lực lượng của ta. Anh Thuyên đứng lên dứt khoát đề xuất:

– Địa hình vùng này hiểm trở, tôi đề nghị cho toàn bộ đơn vị lớn rút lui khỏi căn cứ để bảo toàn lực lượng. Trận này chỉ cần để lại một vài người tinh nhuệ, gọn nhẹ thì mới dễ dàng cơ động, bám trụ chiến đấu bẻ gãy mũi càn của chúng được!

Ý kiến mưu trí của anh được Chi bộ đồng thuận thông qua. Cuối cùng, trận địa Sa Nghe quyết định chỉ để lại duy nhất hai tay súng bám chốt: Anh Bùi Văn Thuyên và đồng chí Chiến du kích.

Trước khi xua quân bộ binh tiến vào, quân Mỹ huy động các tốp máy bay oanh tạc, ném bom dữ dội để dọn bãi cho khoảng 400 tên lính đổ bộ. Nằm dưới làn bom đạn cày xới, anh Thuyên và anh Chiến vẫn kiên cường bám trụ công sự. Ngay trong đợt tiến công đầu tiên của giặc, hai tay súng phối hợp ăn ý, nổ súng chớp nhoáng tiêu diệt tại chỗ 30 tên Mỹ – Ngụy. Bị dính đòn choáng váng, quân địch hoang mang tột độ vì không thể xác định được lực lượng cách mạng ẩn nấp trong cứ điểm đông hay ít. Chúng vội vã tháo chạy ra ngoài, gọi trận địa pháo binh tầm xa dập đạn xối xả vào căn cứ.

Trong đợt pháo kích dữ dội đó, anh Chiến không may bị trúng mảnh đạn bị thương nặng. Anh Thuyên vừa bình tĩnh băng bó vết thương cho đồng đội, vừa một mình ôm súng chạy qua lại giữa các công sự, bày sẵn đạn dược và trái nổ ở các hướng để tạo thế trận nghi binh. Ròng rã suốt ngày hôm đó, quân Mỹ tổ chức liên tiếp 6 đợt tiến công điên cuồng vào chốt, nhưng tất cả đều bị một mình tay súng Bùi Văn Thuyên đánh bật ra ngoài cửa rừng, bẻ gãy hoàn toàn mũi càn, tiêu diệt gần một tiểu đoàn lính Mỹ xâm lược.

3. Khúc tráng ca Bàu Sen: Nhét ruột vào bụng để tiếp tục diệt thù

Tháng 4 năm 1970, anh Bùi Văn Thuyên cùng hai người đồng đội thân thiết là anh Sơn và anh Mười Quảng tổ chức thành một tổ chiến đấu "tam tam" tinh nhuệ, luồn sâu phục kích đánh Mỹ tại phân khu Bàu Sen. Phương án hiệp đồng được vạch rõ: Anh Thuyên giao cho anh Sơn sử dụng khẩu bộc phá chống tăng B40 chịu trách nhiệm hỏa lực chính, anh Mười Quảng mang khẩu súng bộ binh Carbine bọc lót tầm gần, còn bản thân anh trực tiếp sử dụng khẩu súng phóng lựu M79 cùng cơ số 32 viên đạn chiến đấu.

Bước vào trận chiến, tổ "tam tam" đụng độ với một cánh quân Mỹ đông gấp nhiều lần. Giữa làn đạn cày xéo nát bấy trận địa, anh Thuyên bị một mảnh đạn phạt trúng vùng bụng, vết thương quá nặng khiến anh đổ sụp xuống và rơi vào trạng thái bất tỉnh. Thấy hỏa lực địch quá mạnh, anh Sơn vừa nổ súng B40 chế áp bẻ gãy mũi tiến công của giặc, vừa phối hợp cùng Mười Quảng vừa đánh vừa rút lui dần về phía sau để bảo toàn lực lượng.

Một lúc sau, anh Thuyên từ trong cơn hôn mê mệt mỏi chợt tỉnh dậy giữa tiếng súng đạn rền vang. Đưa tay sờ xuống vùng bụng đau rát, anh bàng hoàng nhận ra vết thương găm rách toạc da bụng, khiến toàn bộ khúc ruột đã lòi hẳn ra ngoài cơ thể. Giữa lằn ranh sinh tử, người chiến sĩ đặc công năm ấy đã chứng minh một tinh thần thép phi thường: Anh không một tiếng rên rỉ, tự mình dùng đôi bàn tay trần bình tĩnh nhét toàn bộ khúc ruột vào lại bên trong ổ bụng, rồi dùng tấm băng cá nhân quấn chặt nhiều vòng quanh hông để cố định vết thương.

Vừa nén đau băng bó xong, anh chợt nghe có tiếng động sột xoạt ngay phía trước. Ba tên lính Mỹ hung hãn đang lăm lăm họng súng, nghênh ngang xông lên định chiếm trận địa. Không một giây chần chừ, anh Thuyên dùng hết sức bình sinh ôm lấy khẩu M79, ngắm thẳng vào đội hình địch rồi siết cò. Một tiếng nổ đanh gọn vang lên, cả 3 tên lính Mỹ đổ gục ngay tại chỗ.

Vết thương mất máu quá nhiều khiến sức khỏe của anh yếu dần đi, mắt hoa lên vì kiệt sức. Lúc này, khẩu súng phóng lựu M79 thân thương đã trở thành chiếc gậy chống vững chãi, giúp người thương binh kiên cường ấy từng bước một, lết qua các vạt rừng già, vượt qua vòng vây của giặc để trở về với đơn vị an toàn trong sự ngỡ ngàng, khâm phục của toàn thể đồng đội.

4. Chiếc thùng đại liên bẫy ngầm và danh hiệu Anh hùng lưu danh sử xanh

Không chỉ kiên cường, dũng cảm trong các trận đối đầu trực diện, người chỉ huy Bùi Văn Thuyên còn nổi tiếng với tư duy quân sự cực kỳ mưu trí, sáng tạo khi đối phó với bọn bình định ác ôn. Thời kỳ đó tại xã Thái Bình, bọn bình định ngày đêm tổ chức các đợt càn quét, cướp bóc lương thực và o ép đời sống của nhân dân một cách vô cùng tàn bạo. Đau xót trước cảnh đồng bào bị đàn áp, anh Thuyên hạ quyết tâm bằng mọi giá phải triệt hạ bằng được toán ác ôn này.

Sau nhiều ngày bám nắm quy luật di chuyển của chúng, anh tự tay chuẩn bị một chiếc bẫy ngầm độc đáo: Anh sử dụng một trái nổ mạnh có gài kíp kích nổ tự động bằng lực cơ học, đặt gọn gàng vào bên trong một chiếc thùng chứa đạn đại liên cũ của Mỹ, ngụy trang kín kẽ như một chiếc thùng đạn bị đánh rơi. Sáng hôm sau, anh cải trang thành một người nông dân hiền lành, vác cuốc ra đồng canh tác như bình thường. Khi phát hiện từ xa có chiếc xe chở bọn bình định đang nghênh ngang đi càn quét tiến lại, anh khéo léo đặt chiếc thùng đạn đại liên ngay giữa tim đường ô tô, rồi nhanh chóng lách mình vào ẩn nấp trong bụi rậm gần đó để theo dõi tình hình.

Chiếc xe của bọn bình định tiến đến gần thì phát hiện ra chiếc thùng sắt nằm chơ vơ giữa lộ. Cho rằng đây là thùng đạn quý do lính "Việt cộng" đánh rơi trong lúc hành quân, bọn giặc mừng rỡ nhảy xuống xe, quây quần đông đủ thành một vòng tròn quanh chiếc thùng đạn đại liên, tranh nhau lật qua lật lại để tìm cách cạy nắp.

Đoành!!!

Một tiếng nổ kinh hoàng vang trời dậy đất bùng lên. Sức nổ khủng khiếp của trái nổ cải tiến đã hất văng toàn bộ toán giặc. Toàn bộ 19 tên lính bình định ác ôn đều phải đền tội ngay tại chỗ. Chiến thắng vang dội từ chiếc bẫy ngầm mưu trí của Xã đội phó Bùi Văn Thuyên đã đập tan uy thế kìm kẹp của địch, khiến đồng bào trong toàn xã vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào bộ đội cách mạng.

Anh Thuyên không chỉ là một người chiến sĩ đánh giặc táo bạo, dũng cảm mà còn là một cán bộ chính trị, một tấm gương sáng ngời về tình đồng chí. Năm 1971, chiến sự vùng biên vào giai đoạn ác liệt nhất, một số anh em du kích mới do chưa quen với bom đạn nên xuất hiện tư tưởng dao động, lo sợ. Bằng tấm lòng của một người anh cả, anh Thuyên đã ân cần gặp gỡ từng chiến sĩ, giải thích, động viên và truyền ngọn lửa quyết tâm chiến đấu cho anh em. Qua đợt giáo dục tư tưởng sâu sắc ấy, toàn đội du kích lại nêu cao quyết tâm kiên cường bám trụ bám chốt chiến đấu.

Cũng trong những năm tháng gian khổ này, nguồn lương thực của đơn vị bị địch bao vây cô lập, có những đợt suốt nửa tháng trời anh em phải ăn củ mì luộc trừ bữa để lót dạ qua ngày. Trước tình hình kiệt quệ của đơn vị, anh Thuyên đã chấp nhận nguy hiểm, cải trang lách qua các vành đai đồn bốt dày đặc của giặc để móc nối với các cơ sở kinh tế bí mật của ta trong ấp, từ đó gùi từng bao gạo, muối mì chính mang về cứu đói cho đơn vị. Tấm lòng lo cho chiến sĩ của người chỉ huy khiến anh em du kích càng thêm mến phục và tin yêu anh vô hạn.

Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, người chiến sĩ dũng cảm, mưu trí Bùi Văn Thuyên đã trực tiếp tham gia chiến đấu trên 1.000 trận đánh lớn nhỏ, anh đã từng dũng cảm chịu thương 9 lần và mang trên mình tổng cộng 72 vết sẹo, vết thương nặng nhẹ của bom đạn chiến trường. Với thành tích 5 năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, anh liên tục được Huyện đội và Tỉnh đội mời đi báo cáo điển hình, chia sẻ kinh nghiệm đánh Mỹ cứu nước.

Ngày 20 tháng 12 năm 1971, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc được tổ chức trang trọng tại Bộ Chỉ huy Miền đồng chí Bùi Văn Thuyên đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân

Bước qua khói lửa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, người anh hùng với những chiến công lẫy lừng năm xưa nay đã xuất ngũ, trở về cuộc sống đời thường, nghỉ hưu và vui vầy tuổi già cùng con cháu tại mảnh đất ấp Sa Nghe, xã Hảo Đước, tỉnh Tây Ninh. Giữa xóm làng bình yên, người anh hùng mang trên mình 72 vết thương chiến trường ấy vẫn luôn giữ vẹn nguyên phẩm chất giản dị, mộc mạc, là một người nông dân hiền lành, chất phác và nhận được sự kính trọng, yêu mến của toàn thể nhân dân địa phương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn