Anh hùng Lực lượng vũ trang

Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Lê Văn Đạm

Anh hùng Lê Văn Đạm sinh năm 1920, trong một gia đình bần nông ở xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, khi tuyên dương Anh hùng là chính trị viên Xã đội An Nhơn Tây. Đồng chí có 6 người con tham gia cách mạng, 3 người đã hy sinh.

TP. Hồ Chí Minh02/12/2025Trang Minh Sang (Chi Đoàn Ấp Giữa, Đoàn xã Củ Chi)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong 9 năm đánh Pháp, Lê Văn Đạm là một nông dân kiên cường bám trụ. Với chiếc gậy tầm vông vạt nhọn, tham gia các cuộc bạo động và phá hoại giao thông địch, không những ông tích cực tham gia kháng chiến mà còn động viên cả gia đình tham gia. Ông phục vụ các chiến dịch bằng cách dùng xe bò của nhà để vận chuyển lương thực tiếp tế. Trong kháng chiến chống Mỹ, 3 người con của ông tham gia lực lượng vũ trang và lần lượt hy sinh. Tuy thế, ông vẫn tiếp tục động viên đến người con thứ sáu lên đường giết giặc. Bản thân tuổi cao, sức yếu nhưng trong suốt thời kỳ khó khăn, ác liệt, ông vẫn bám giữ đất và động viên đồng bào trong ấp xây dựng làng chiến đấu chống giặc. Ông đã tổ chức tập hợp quần chúng chiến đấu bằng vũ khí thô sơ, làm tiêu hao sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, đồng thời xây dựng nhiều căn cứ bám trụ. Những căn cứ đó ở địa phương đã góp phần tích cực cho nhiều cơ quan đứng chân trên địa bàn làm nhiệm vụ. Ông được anh em tin mến và gọi bằng cái tên thân thiết “Ông Ba bám trụ và Tham mưu trưởng vùng”

Phong trào Đồng Khởi năm 1960, ông là một nông dân cốt cán của địa phương

luôn đi đầu trong mọi công tác, chấp hành nghiêm chính sách của Đảng, ra sức tăng gia sản xuất nuôi quân, động viên con em tòng quân, phá hoại cầu đường gây cản trở cho địch. Năm 1964 - 1965, phong trào đào hầm địa đạo ở Củ Chi rất rầm rộ, ông là một nông dân kiện tướng đào hầm xuất sắc và là ngọn cờ đầu của phong trào này. Dù tuổi đã cao, ông vẫn tham gia tải đạn nhiều đợt phục vụ chiến trường, mỗi đợt từ 15 đến 20 ngày.

Năm 1966, Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam, mở nhiều đợt càn quét trên vùng đất Củ Chi, dùng B.52 đánh phá hủy diệt sự sống, gia đình ông cương quyết bám trụ, đồng thời động viên bà con bám trụ giữ làng. Đầu năm 1967, khi địch mở cuộc càn Cedar Falls đánh phá ác liệt 6 xã phía Bắc Củ Chi, gia đình ông mới chịu sơ tán. Riêng ông với người con út cùng một số thanh niên trong ấp ở lại chiến đấu.

Ông phát động và hướng dẫn mọi người lượm bom, pháo lép, tự tạo trái gài đánh địch đi càn. Kết quả lần đầu tiên diệt được 7 tên lính Mỹ. Địch không dám cần sâu, anh em du kích phấn khởi tin tưởng, thi đua sưu tầm trái lép, lập nhiều bãi “tử địa” bảo vệ căn cứ.

Ban ngày chiến đấu, ban đêm ông tổ chức các đội cấy lúa dưới tầm pháo và máy bay trực thăng của địch rọi đèn bắn phá. Kết quả vụ mùa năm 1967, đội của ông đã thu hoạch trên 120 gia lúa, tạo điều kiện cho việc bám trụ lâu dài.

Năm 1969 - 1970 là giai đoạn giặc Mỹ phản kích ác liệt, bằng mọi vũ khí và phương tiện chiến tranh, ông vẫn cùng du kích bám trụ kiên cường, tiếp tục chiến đấu. Nghệ thuật dùng trái gài của ông đã phát triển cao hơn, góp phần ngăn chặn quân dịch khắp nơi. Khắp trên địa hình của ấp, đâu đâu cũng có trái gài của du kích. Có bãi chiều dài hơn 1.000 mét có tới 900 trái các loại. Kết quả bãi trái này đã làm nổ cháy 2 trực thăng địch đến đổ quân, bẻ gãy nhiều cuộc càn, diệt 150 tên Mỹ, phá hủy 8 xe tăng và xe bọc thép. Bị trái gài nhiều, càng ngày địch càng hoang mang lo sợ, không dám càn sâu vào căn cứ.

Ngoài việc tham gia và góp phần chỉ huy đội du kích chiến đấu, ông Đạm còn quan tâm đến đời sống anh em, động viên họ xây dựng nhiều hầm hố, căn cứ, dự trữ nhiều lương thực, nên có khi một thời gian dài bị địch bao vây, phong tỏa kinh tế, đội du kích vẫn bám trụ vững vàng. Ông còn tận tình giúp đỡ các cơ quan, đơn vị lân cận 2

bám trụ đánh địch. Năm 1968, chính ông đã giúp đỡ và nuôi giấu một bác sĩ và hai thương binh bị lạc trong một trận đánh suốt một thời gian dài, sau đó tìm cách móc nối đưa các đồng chí về đơn vị.

Năm 1969, ông nhận và đảm bảo cho một đại đội gồm 30 đồng chí bám trụ tại căn cứ của mình an toàn để làm nhiệm vụ. Trong một lần khác, Trung đoàn 88 khi chiến đấu gặp khó khăn, để lại 30 tử sĩ, ông đã cùng 3 đồng chí khác chôn cất anh em chu đáo. Qua hành động của ông, đơn vị bạn và anh em trong vùng rất cảm phục, tín nhiệm.

Đầu năm 1972, ông được giao nhiệm vụ làm chính trị viên Xã đội xã An Nhơn Tây. Trong đêm 25 tháng 4 năm 1972, đội du kích của ông đã cùng các đơn vị bạn tấn công vào ấp chiến lược Trung Hòa, góp phần giải phóng ấp chiến lược này. Trong khi đó, ông đã tích cực vận động quần chúng trong ấp chiến lược trở về vườn đất cũ. Nhân đó, xã có thêm thanh niên để phát triển đội du kích.

Từ năm 1967 - 1973, ông đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu gần 200 trận, diệt 250 tên địch, phá hủy 2 trực thăng và 18 xe bọc thép, thu lượm và tự tạo trên 1.000 trái các loại. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.

Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Lê Văn Đạm được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” (Lệnh số 104/LCT của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tôn Đức Thắng ký).

Suốt một đời vì nước vì dân, Anh hùng Lê Văn Đạm là một tấm gương sáng về sự anh dũng, gan dạ trong chiến đấu. Sự hy sinh và đóng góp của đồng chí đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Thế trẻ hôm nay cần thể hiện lòng yêu nước của mình bằng việc không ngừng nâng cao lòng tự hào dân tộc, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và tương lai tươi sáng của đất nước, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật Nhà nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn