ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN NGUYỄN THỊ BẢY – “HOÀNG HẬU ĐỎ”
Mỗi lần bị nhục hình, bà trừng mắt nhìn thẳng mặt quân thù, đanh thép nói: “Chúng bây là bọn người cướp nước và bán nước! Vì vậy chúng tao là những người Cộng sản có nhiệm vụ cùng nhân dân đánh đổ bọn bây, giành lại nền độc lập cho đất nước”. Trước sự bất khuất của bà Bảy, bọn lính bót Pô-lô đành bó tay khuất phục. Chúng đặt cho bà biệt danh “Hoàng hậu đỏ”

Nguyễn Thị Bảy (1912—1941) sinh ra tại xã Vĩnh Hựu, tỉnh Gò Công (nay thuộc xã Vĩnh Hựu, tỉnh Đồng Tháp). Theo Địa chí Long An, năm bà Bảy lên mười tuổi thì mẹ lâm bệnh qua đời, nên bà theo cha làm nghề hốt thuốc bắc sang sống ở quận Cần Đước, lớn lên bà rời nhà ra đi tìm đường tự lập. Bà đến Phước Vĩnh Đông (huyện Cần Giuộc), vừa làm nghề cấy mướn, vừa làm nghề đốn củi bên phía Rừng Sác. Ở đây, bà làm quen với ông Nguyễn Văn Ớt, quê xã Phước Lại, cũng đồng cảnh ngộ, sau đó hai người thành vợ thành chồng. Ít lâu sau, bà mới phát hiện ra rằng chồng mình là mật đảng viên cộng sản đang hoạt động bí mật. Thực ra bà Ớt là Bí thư chi bộ xã Phước Lại, được trên tăng cường về xây dựng cơ sở ở Phước Vĩnh Đông. Cũng chính bà Ớt đã tuyên truyền giác ngộ và tổ chức kết nạp Đảng cho bà ở chi bộ xã Phước Lại. Năm ấy, bà vừa tròn 20 tuổi. Từ đó, đôi bạn đời trở thành đôi đồng chí, cùng lao động, cùng hoạt động cách mạng. Nhạy bén và dũng cảm, biết gắn bó với quần chúng trong công tác, bà Bảy đã trưởng thành nhanh chóng.
Năm 1934, bà được cấp trên chỉ định vào Ban chấp hành Quận ủy Cần Giuộc. Đến năm 1936, Bà tham gia Tỉnh ủy Chợ Lớn, đồng thời phụ trách Bí thư quận ủy Cần Giuộc. Đây là thời kỳ phong trào “Đông Dương đại hội” phát triển mạnh, nhiều Ủy ban hành động, dưới sự chỉ đạo của quận ủy, được thành lập nhiều nơi trong quận.
Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đế quốc Pháp nhảy vào vòng chiến. Ở Đông Dương, bọn thực dân tìm mọi cách để đàn áp và dập tắt phong trào cách mạng. Chúng ra sắc lệnh giải tán Đảng cộng sản. Ở tỉnh Chợ Lớn, nhiều đồng chí đảng viên cốt cán và quần chúng cách mạng bị bắt bớ, giam cầm. Một số khác vì bị lộ đã phải chuyển vùng, nhưng bà Bảy nhờ tài khéo léo ngụy trang và biết dựa vào quần chúng nên vẫn tiếp tục bám trụ và len lỏi hoạt động ở địa phương.
Do công tác giỏi nên bà Nguyễn Thị Bảy được vào Quận ủy Cần Giuộc rồi vào Tỉnh ủy Chợ Lớn. Khi chuẩn bị khởi nghĩa thì bà được phân công chỉ đạo các lực lượng cách mạng ở “Khu vực đỏ” Cần Giuộc. Thời giờ ước hẹn khởi nghĩa bắt đầu là nửa đêm ngày 23/11/1940, khi đèn điện Sài Gòn – Chợ Lớn tắt. Các lực lượng khởi nghĩa đã sẵn sàng, tuy súng ít nhưng bên ta có đông đảo nhân dân và tinh thần cao của các chiến sĩ vũ trang với dao mác, tầm vông sẵn sàng xông lên. Đèn Sài Gòn – Chợ Lớn vẫn cháy, quân ta ở vùng Phú Lạc, Phong Đước gần thành phố chờ mãi mà không nghe thấy hiệu lệnh nên rút êm. Còn ở khu vực do bà Nguyễn Thị Bảy phụ trách thì anh chị em ta cứ xông vào chiếm đồn lấy súng, phá tề, lập chính quyền cách mạng. Từ ngày 23 đến ngày 26, ta làm chủ tình hình.
Đến ngày 27 thì Pháp đưa lính lê dương xuống đàn áp, đốt nhà, bắt người, giết dân. Du kích do bà Nguyễn Thị Bảy chỉ huy đánh địch suốt 15 ngày nhưng không bắt được liên lạc với cấp trên nên rút về Rừng Sác để bảo tồn lực lượng. Rút đi, nhưng lực lượng du kích vẫn chia nhau đánh công sở, phá tề, phục kích địch, giải tán các đám cướp, duy trì và củng cố cơ sở cách mạng của xã, ấp.
Ngày 26/12/1940, bà Nguyễn Thị Bảy cùng đồng chí Trần Chí Nam ủy viên Ủy ban khởi nghĩa quận, trao đổi công tác trên một chiếc xuồng thì bất ngờ gặp phải bọn lính lê dương tuần tra. Đồng chí Trần Chí Nam xách súng vừa nhảy lên bờ thì bị bắn gục, còn bà Bảy lao xuống sông, bị chúng bắt được, đưa thẳng về đồn. Sau đó, chúng đem bà về giam ở bót Pôlô, Sài Gòn. Chính nơi đây, địch đã cho thủ tiêu nhiều tù nhân Cộng sản. Chúng dùng đủ cực hình dã man tra tấn bà. Mỗi lần bị nhục hình, bà trừng mắt nhìn thẳng mặt quân thù, đanh thép nói: “Chúng bây là bọn người cướp nước và bán nước! Vì vậy chúng tao là những người Cộng sản có nhiệm vụ cùng nhân dân đánh đổ bọn bây, giành lại nền độc lập cho đất nước”.
Trước sự bất khuất của bà Bảy, bọn lính bót Pô-lô đành bó tay khuất phục. Chúng đặt cho bà biệt danh “Hoàng hậu đỏ”, chuyển bà qua khám Phú Mỹ - nơi biệt giam những nữ tù nhân để chờ ngày đưa ra tòa án quân sự kết án. Từ nhà lao này qua nhà tù khác, bà luôn giáo dục chị em hãy vững tin ở ngày mai. Vào khám Phú Mỹ, bà Bảy bị giam chung với đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai - Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định người đã từng huấn luyện, dìu dắt bà .
Mấy tháng sau, cả hai người bị tòa án quân sự Sài Gòn kết án tử hình. Đây cũng là hai nữ đảng viên duy nhất bị kết án tử hình, trong bản danh sách hơn 170 nữ tù chính trị bị bắt giam lúc bấy giờ.
Ngày 18/5/1941, bọn thực dân Pháp đưa bà về xử bắn tại sân banh Cần Giuộc cùng với 4 đồng chí khác nhằm uy hiếp tinh thần dân chúng.
Bà lắc đầu từ chối việc rửa tội của người linh mục. Một tên địch hỏi bà trước khi chết có cần nhắn nhủ điều gì cho gia đình không? Bà trả lời: “Tao không còn gia đình, tao chỉ muốn nhắn nhủ đồng bào tao đôi lời thôi”. Nói xong, bà quay sang phía bà con đang đứng, kêu gọi mọi người hãy giữ vững dũng khí, tiếp tục đấu tranh đánh đuổi bọn cướp nước để mọi người được hưởng hạnh phúc ấm no.
Đứng bên cột bắn, bà không cho địch bịt mắt, để bà một lần cuối được nhìn thấy đồng bào, quê hương của mình.
Những người chứng kiến hôm ấy nghe tiếng hô của 5 chiến sĩ cộng sản là Bảy, Đang, Châu, Tiếu, Thiệp vang lên trong tiếng súng:
- Đả đảo đế quốc Pháp !
- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Phút giây anh hùng của nữ cách mạng Nguyễn Thị Bảy. Ảnh: Trung Ngô (chụp từ Bảo tàng Long An)
Cái chết của Nguyễn Thị Bảy và các đồng chí của bà đã gây niềm xúc động lớn, và mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm nhân dân Cần Giuộc hình ảnh kiên cường bất khuất của những người cộng sản trung kiên.
Ghi nhận công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Thị Bảy, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng đồng chí danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” vào ngày 23/02/2010 và truy tặng danh hiệu Nhà nước “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng” vào ngày 05/6/2015.
Câu chuyện về tấm gương lịch sử cách mạng không chỉ là tài liệu lịch sử, mà đó còn mang lại những giá trị tinh thần. Để lại trong chúng ta lòng biết ơn sâu sắc những anh hùng hi sinh cho hòa bình, độc lập, tự do; Để trái tim chúng ta đập mạnh mẽ hơn, rực cháy hơn vì tình yêu Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc. Để ý chí chúng ta được kế thừa, tiếp nối từ những người anh hùng đã ngã xuống và phát huy, xây dựng đất nước trong thời đại mới.


