Anh hùng Ngô Mây
Trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, Ngô Mây – một con người bình dị nhưng mang ý chí phi thường – đã chọn cho mình con đường ngắn nhất để phụng sự Tổ quốc, lặng lẽ đối diện hiểm nguy bằng tất cả lòng dũng cảm và tinh thần hi sinh cao cả.

Ngô Mây (1924–1947) là một cảm tử quân tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, người đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của Tổ quốc. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội ngay trong đợt phong tặng đầu tiên năm 1955, cùng Huân chương Quân công hạng Nhì. Ngô Mây sinh năm 1924 tại thôn Vân Triêm, xã Cát Chánh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (nay thuộc xã Ngô Mây, tỉnh Gia Lai), trong một gia đình nông dân nghèo, là con một. Cha mất sớm, từ nhỏ ông đã phải lao động vất vả để tự nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình. Năm 1945, Ngô Mây tham gia Việt Minh giành chính quyền tại huyện Phù Cát và trở thành đội viên của “Đội tự vệ sắt” làng Vân Triêm. Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ông tiếp tục tham gia du kích xã, kiên cường chiến đấu chống lại quân thù. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, tháng 4 năm 1947, Ngô Mây xung phong nhập ngũ, được biên chế vào lực lượng “quyết tử”. Được làm nhiệm vụ đặc biệt ấy, ông vô cùng vinh dự và tự hào. Trong bối cảnh quân Pháp có vũ khí hiện đại, còn quân đội ta trang bị thô sơ, tinh thần chiến đấu “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trở thành sức mạnh lớn nhất. Đại đội quyết tử của Tiểu đoàn 50, Trung đoàn 94 (sau là Trung đoàn 108 – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân) ra đời từ yêu cầu ấy. Ngay từ khi về đơn vị, Ngô Mây đã xung phong mang theo một quả bom, sẵn sàng chờ ngày xung trận.
Ngày 11-12-1947, quân Pháp từ An Khê tiến đánh Bình Định theo Quốc lộ 19. Nhận lệnh xuất kích, Ngô Mây ôm bom mai phục tại ven suối Vối, cách An Khê khoảng 2 km. Tiếng bom vang lên dữ dội, tiêu diệt hơn một trung đội lính Âu – Phi. Quân ta thừa thắng xông lên, diệt thêm hơn 100 tên địch, buộc quân Pháp hoảng loạn rút chạy về An Khê, bỏ dở cuộc càn quét. Vùng giải phóng Bình Định được giữ vững. Còn Ngô Mây – người chiến sĩ quyết tử – chỉ để lại chiếc khăn quàng đỏ vắt trên ngọn cây cao. Khi ấy, anh vừa tròn 23 tuổi.
Sự hy sinh anh dũng của Ngô Mây được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận sâu sắc. Ngày 31-8-1955, ông được Quốc hội truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì, với dòng chữ tuyên dương “đệ nhị anh hùng toàn quốc”. Ngày nay, tên Ngô Mây được đặt cho huyện lỵ, trường học ở huyện Phù Cát; cho một phường, một con đường và hai ngôi trường tại thành phố Quy Nhơn.
Tượng đài Anh hùng Ngô Mây ôm bom, do họa sĩ Xuân Việt sáng tác, được dựng trang trọng giữa trung tâm huyện, như một lời nhắc nhở thiêng liêng về người chiến sĩ đã sống và chết vì Tổ quốc. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng sự hy sinh của những người anh hùng như Ngô Mây vẫn còn mãi. Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, các thế hệ hôm nay và mai sau sẽ luôn khắc ghi công lao của những con người đã ngã xuống cho nền độc lập, tự do của đất nước.


