Anh hùng Nguyễn Hữu Tại: "Cây sáng kiến" và bàn tay vàng của ngành kỹ thuật Hải quân
Đồng chí Nguyễn Hữu Tại (sinh năm 1922) là một người thợ gò hàn xuất sắc của Bộ tư lệnh Hải quân, nổi tiếng với tinh thần bền bỉ và khả năng sáng tạo phi thường. Trong hơn 20 năm phục vụ quân đội, ông đã đóng góp nhiều sáng kiến kỹ thuật có giá trị lớn, tiêu biểu là việc cải tiến dụng cụ sản xuất giúp rút ngắn thời gian làm bộ vòng kẹp ống dẫn từ 60 phút xuống còn 5 phút. Đặc biệt, ông đã tự nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc máy hàn cơ động chỉ nặng 40 kg (thay thế máy cũ nặng 400 kg) và ph
Nguyễn Hữu Tại, sinh năm 1922, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Thành, huyện Cần Ngang, tỉnh Trà Vinh, làm công tác ở xưởng quân giới tỉnh Vĩnh Trà từ tháng 4 năm 1950, chuyển sang bộ đội từ tháng 12 năm 1965. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chuẩn úy (quân nhân chuyên nghiệp), tổ trưởng tổ gò hàn xưởng 48, Cục Kỹ thuật thuộc Bộ tư lệnh Hải quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1950 đến năm 1954. Nguyễn Hữu Tại công tác ở xưởng quân giới tỉnh Vĩnh Trà; từ năm 1955 đến năm 1973, công tác ở xưởng sửa chữa tàu thuộc Bộ tư lệnh Hải quân.
Hơn 20 năm phục vụ quân đội, Nguyễn Hữu Tại luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, bền bỉ, tận tụy, tích cực công tác. Nhất là từ năm 1955 đến năm 1973, đồng chí đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, làm việc không quản vất vả, mệt nhọc; là một trong những người dẫn đầu năng suất của tổ, năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Nguyễn Hữu Tại chịu khó đi sâu nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa dây chuyền sản xuất, tăng năng suất , lao động, bảo đảm chất lượng tốt, tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm nhẹ và an toàn lao động.
Trước đây, sản xuất bộ vòng kẹp các đầu mối ống dẫn nước, dẫn dầu, ống hơi... trong máy tàu, thường phải một giờ mới xong một bộ. Nguyễn Hữu Tại nghiên cứu cải tiến dụng cụ sản xuất, nhờ đó đã rút xuống 5 phút xong một bộ.
Trong tàu săn ngầm có bình làm nguội khí, mỗi khi bị dò phải bỏ đi. Bình mới rất hiếm, phải nhập từ nước ngoài vào. Đồng chí đã miệt mài nghiên cứu, hàn thành công những bình dò, bảo đảm sử dụng tốt.
Thấy nhà máy chỉ có một máy hàn nặng 400 ki-lô-gam, cơ động khó, không thuận tiện cho việc sử dụng, tranh thủ các giờ nghỉ, Nguyễn Hữu Tại tích cực nghiên cứu, thiết kế bản vẽ, tìm kiếm nguyên vật liệu, trong 6 tháng liền (có sự giúp đỡ của những người xung quanh), đã làm thành công một máy hàn nặng 40 ki-lô-gam, chất lượng tốt, sử dụng thuận tiện.
Nguyễn Hữu Tại có tinh thần cần kiệm, yêu quý của công, giữ gìn máy móc, trang bị tết, tích cực thu nhặt nguyên vật liệu cũ. Với những thứ thu nhặt được, đồng chí đã tổ chức làm được búa, đục, mỏ hàn... Đồng chí đã góp phần cùng tổ sửa chữa, phục hồi được một máy đốt và hai máy khoan đã hư hỏng nặng.
Nguyễn Hữu Tại chịu khó học tập, tranh thủ giờ nghỉ nghiên cứu sách kỹ thuật, học hỏi người xung quanh nên tay nghề ngày càng cao. Đối với mọi người, đồng chí tận tình giúp đỡ, hướng dẫn nâng cao trình độ kỹ thuật.
Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng ba, 12 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua.
Ngày 3 tháng 9 năm 1973, Nguyễn Hữu Tại được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


