Anh hùng Nguyễn Thị Định
Anh hùng Nguyễn Thị Định
Anh hùng Nguyễn Thị Định (1920-1992), dân tộc Kinh, quê ở xã Lương Hoà, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Nguyễn Thị Định sinh ra trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước. Là người phụ nữ thông minh, đôn hậu, khiêm nhường, chị có sức thuyết phục đối với mọi tầng lớp phụ nữ và nhân dân trong nước và quốc tế. Năm 1936, mới 16 tuổi, Nguyễn Thị Định đã được anh ruột giác ngộ cách mạng, đảm nhận nhiệm vụ giao liên, rải truyền đơn và tham gia vận động quần chúng đấu tranh. Năm 1938, Nguyễn Thị Định lấy chồng là Tỉnh ủy viên Bến Tre. Lúc chị sinh con được 3 ngày, chưa kịp đặt tên thì chồng bị bắt, bị đày ra Côn Đảo. Vài tháng sau, vào ngày 19-7-1940, sau khi bế con đi thăm chồng về, do mật thám chỉ điểm, Nguyễn Thị Định bị địch bắt giam tại Khám Bến Tre. Chúng buộc Nguyễn Thị Định gửi con về quê, rồi bắt đi đày ở nhà tù Ba Giá, một nơi rừng sâu nước độc, giáp biên giới Campuchia. Nhà tù này có tiếng là “có đi không về” vì muỗi độc, vắt, voi, cọp, nhất là cọp người (bọn Tây râu xồm, cai đội người Việt). Chúng tìm mọi cớ tra tấn tù nhân, khiến thân thể họ lúc nào cũng bầm tím. Cuối năm 1943, do bị đau tim nặng, Nguyễn Thị Định mới được phóng thích. Trở về nhà chưa kịp lành vết thương, Nguyễn Thị Định được tin chồng bị tra tấn khốc liệt đã chết ngoài Côn Đảo. Sau Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945, Nguyễn Thị Định cùng Tư lệnh Liên khu 8 ra báo cáo với Bác Hồ và Chính phủ về tình hình Nam Bộ sau Hiệp định sơ bộ và xin viện trợ vũ khí. Nǎm 1946, Nguyễn Thị Định là phái viên của Nam Bộ bất chấp hiểm nguy trước phong ba bão tố và sự vây hãm của kẻ thù, bí mật vượt trên 3000km đường biển ra Hà Nội nhận chỉ thị của Trung ương chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Trên đường về Nguyễn Thị Định đã hình thành được đưòng dây vận tải từ Bắc vào Nam. Chuyến vượt biển mở đường của Nguyễn Thị Định đã trở thành bài học kinh nghiệm hoạt động của phong trào chiến tranh du kích Việt Nam. Tháng 9/1972, chuyến hàng chi viện đầu tiên của Trung ương đến miền Nam đã mở ra "Con đường Hồ Chí Minh trên biển" và Đoàn vận tải mang "962" đã trở thành đơn vị vận tải anh hùng trên chiến trường ven biển Nam Bộ. Sau năm 1954, Nguyễn Thị Định nhận lệnh ở lại miền Nam và được chỉ định vào Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre, để đảm bảo bí mật nên phải dứt ruột gửi con trai duy nhất của mình ra Bắc học tập. Nǎm 1959, hiệp định Giơnevơ về Việt Nam bị địch vi phạm nghiêm trọng, chức quyền Ngô Đình Diệm với luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam để khủng bố phong trào Cách mạng. Nguyễn Thị Định là người khởi xướng và là lãnh đạo chủ chốt của phong trào Đồng Khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre, mở đầu phong trào Đồng khởi trong toàn tỉnh và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Từ phong trào Đồng khởi xuất hiện cái tên "Đội quân tóc dài", đội quân gồm những phụ nữ thuộc mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi không một tấc sắt trong tay song lại có sức mạnh phi thường đã làm thất bại nhiều thủ đoạn thâm độc, nhiều cuộc càn quét lớn của địch. Thắng lợi của "Đội quân tóc dài" đã hình thành phương châm "Hai chân, ba mũi giáp công" của đường lối chiến tranh nhân dân ở Việt nam. Đội quân tóc dài, niềm tự hào của dân tộc nỗi khiếp sợ của kẻ thù đã ghi lại dấu ấn một thời kỳ lịch sử oanh liệt của dân tộc. Trong lúc Nguyễn Thị Định đang hăng hái phấn khởi lao vào nhiệm vụ thì một nỗi đau khác lại ập đến: cháu On (tên khác là Nguyễn Ngọc Minh), con trai chị, bị bệnh mất ngày 4-5-1960. Phong trào Đồng Khởi đang bước vào đợt hai, nên bà lại phải nén nỗi đau để lãnh đạo phong trào đang sôi sục khí thế. Tính đến cuối năm 1960, trong số 1.296 xã toàn Nam Bộ thì có đến 800 xã nhân dân làm chủ với mức độ khác nhau. Văn kiện “50 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” đã nhận định sự kiện này: “Thắng lợi của phong trào Đồng khởi đã tạo một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi cục diện, làm một đòn bất ngờ giáng vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức điển hình của Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ…”. Đội quân làm nên phong trào Đồng khởi chính là những phụ nữ miền Nam kiên cường, trung hậu, đảm đang do Nguyễn Thị Định lãnh đạo. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, với tư cách là Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam, Nguyễn Thị Định đã lãnh đạo đội quân tóc dài làm nên những chiến công lừng lẫy. Với những đóng góp lớn lao trên, tháng 4-1974, Nguyễn Thị Định được phong quân hàm Thiếu tướng. Sau ngày giải phóng miền Nam, Nguyễn Thị Định được Đảng, Nhà nước và các tổ chức quốc tế trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu Hồ Chí Minh, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Giải thưởng Hòa bình quốc tế Lê-nin, Huân chương Liên đoàn phụ nữ dân chủ thế giới, Huân chương của Nhà nước Lào, Huân chương BLQYQ Giron Far Solidaridal và Mariam Graj als của Nhà nước Cuba. Từ 1976, đất nước thống nhất, Nguyễn Thị Định từ một nữ tướng kiên cường mưu lược trong chỉ huy chiến đấu, đã trở thành nhà quản lý, người lãnh đạo trung thực và liêm khiết trong hoà bình xây dựng chǎm lo đến đời sống của những người dân nghèo khổ, những người bị oan ức. Nguyễn Thị Định đã dành nhiều tâm lực ở cuối đời vào ý tưởng nhân vǎn cao đẹp trong việc xây dựng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, - một công trình vǎn hoá có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với phụ nữ và nhân dân Việt Nam. Nǎm 1992, Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, cả nước nhất là Hội Phụ nữ các tỉnh, thành tiếc thương Bà. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định.... Hình ảnh Nguyễn Thị Định đã trở thành bất tử trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Ngày 30-8-1995, Nguyễn Thị Định được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.



